Kính mời quý vị cùng chúng tôi ôn cổ minh kim, khám phá bí ẩn của vũ trụ, sinh mệnh và thân thể người, cùng ôn lại những câu chuyện văn hóa truyền thống, đề cao đạo đức, nhân tâm hướng thiện.
Khổng Tử với phẩm hạnh và đạo đức cao thượng đã tận tâm cống hiến cho sự nghiệp giáo dục; mặc dù cả đời nghèo khổ, gần như chưa từng giữ chức quan lớn, nhưng vẫn được coi là bậc “Chí Thánh Tôn Sư” của muôn đời. Trái lại, Tần Cối từng giữ chức Tể tướng triều Tống, quyền thế lẫy lừng, chức quan không hề thấp; thế nhưng, hành vi xấu xa hãm hại người trung nghĩa, bán nước cầu vinh của ông ta đã để lại tiếng xấu muôn đời. Từ đó có thể thấy, một cuộc đời thành công không nhất thiết có liên quan đến việc có làm quan hay không, cũng không phụ thuộc vào chức vị cao hay thấp. “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di” (nghĩa là: Giàu sang không thể làm sa ngã, nghèo hèn không làm thay đổi ý chí) mới là phẩm hạnh mà một người tốt cần phải kiên trì giữ vững.
Vào thời nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, Hoàng Bá và Lệnh Hồ Tử Bá là đôi bạn thân cùng quê. Khi Lệnh Hồ Tử Bá giữ chức Tể tướng nước Sở, Hoàng Bá vẫn chỉ là một viên quan nhỏ ở địa phương. Một hôm, Lệnh Hồ Tử Bá sai con trai mang thư đến cho Hoàng Bá. Khi vị khách quý này rời đi, Hoàng Bá bỗng ngồi bệt xuống ghế, mãi vẫn chưa thể đứng dậy được. Vợ ông cảm thấy rất lạ, bèn hỏi: “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?”
Hoàng Bá đáp: “Vừa rồi ta thấy con trai của Lệnh Hồ Tử Bá dung mạo rạng rỡ, dáng vẻ đường hoàng, phong thái đĩnh đạc; còn ta thì lôi thôi nhếch nhác, trông chẳng khác nào một ông già tồi tàn. Thấy người ta thành đạt, lại nghĩ đến sự bất tài của bản thân. Ta thân bại danh liệt thì cũng chẳng sao, nhưng nghĩ đến việc mình không thể đem lại cho con cái một cuộc sống tốt đẹp như vậy, ta cảm thấy vô cùng hổ thẹn”.
Nghe xong, vợ của Hoàng Bá vô cùng tức giận, lập tức tỏ ý không đồng tình và nói: “Chú trọng sự liêm khiết và giữ gìn phẩm hạnh, sống thanh bần, không ham công danh lợi lộc – đó là điều phu quân vẫn kiên trì từ trước đến nay. Bây giờ, Lệnh Hồ Tử Bá trông có vẻ phát đạt và quyền quý, nhưng đó cũng chỉ là do lựa chọn cuộc đời khác nhau của mỗi người. Hà tất phải đem ra so sánh? Cớ gì phu quân lại vì thế mà cảm thấy hổ thẹn về chí hướng ban đầu của mình, hay cảm thấy hổ thẹn thay cho đám trẻ chứ?”
Sau khi được vợ nhắc nhở, Hoàng Bá vô cùng kính phục trước sự sáng suốt và tấm lòng hiểu thấu nghĩa lớn của vợ. Đúng vậy, giữa những cám dỗ vô hình trong chốn hồng trần cuồn cuộn, nếu một người không có ý chí kiên định thì quả thật rất dễ lo được lo mất, thậm chí lay chuyển cả chí hướng và phẩm hạnh ban đầu của mình. Tuy nhiên, bậc chính nhân quân tử chân chính, một khi đã lập chí, đều sẽ như vợ của Hoàng Bá mà làm được “nghèo hèn không làm thay đổi ý chí” và có được phẩm hạnh cùng ý chí kiên định như vậy. Dù không có chức vị hiển hách hay thành tựu lớn trong đời, họ vẫn dễ dàng nhận được sự tôn kính và công nhận của người đời, lấy đạo đức và phẩm hạnh cao quý mà soi sáng một phương.
【Giải nghĩa】 Trong tiếng Trung, thành ngữ “liễu ám hoa minh” là chỉ mắt nhìn thấy tình huống không còn đường tiến nữa, thì đột nhiên xuất hiện chuyển biến và hy vọng.
【Ví dụ】 Sau khi anh ấy trải qua hết lận đận trong cuộc sống, giờ đây đúng là đã ‘liễu ám hoa minh’ rồi (trong hoàn cảnh khốn khó, mà tìm được lối thoát).
【Gần nghĩa, trái nghĩa】 ‘hoa hồng liễu lục, hoa kiều liễu mị’ (hoa đỏ liễu xanh, hoa đẹp liễu tươi—chỉ cảnh sắc tươi đẹp); ‘sơn cùng thủy tận’ (núi cùng nước tận—lâm vào cảnh tuyệt vọng).
【Điển cố】
Thành ngữ này lấy từ bài thơ Đường «Ma Ha Trì tống Lý thị ngự chi phong tường» của Võ Nguyên Hành. Thi nhân yêu nước Lục Du nổi tiếng thời Nam Tống kiên quyết chủ trương kháng Kim, bị tước mất chức quan. Lục Du trở về cố hương Sơn Âm (nay là Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang), chỉ ngồi đọc sách qua ngày.
Một ngày, Lục Du đi chơi xa, vượt qua con đường có non có nước, đi được hơn một canh giờ, nhà cửa ngày càng thưa thớt. Khi ông leo lên một sườn dốc phóng mắt nhìn, chỉ thấy trước mặt núi non trùng điệp, sông ngòi chằng chịt, tựa như không còn đường đi nữa. Nhưng Lục Du ham chơi nên không muốn quay đầu. Ông men theo sườn núi đi về phía trước, được mấy chục bước, rẽ qua góc núi, thì đột nhiên phát hiện ở trong một thung lũng gần đó có một thôn trang nhỏ. Nơi ấy hoa đỏ liễu xanh, cảnh sắc xinh tươi, hệt như cõi bồng lai trong truyền thuyết.
Trở về nhà, Lục Du có ấn tượng sâu sắc với chuyến tản bộ xa này, mới sáng tác bài thơ luật thất ngôn «Du Sơn Tây thôn», trong đó có hai câu: “Sơn trùng thủy phục nghi vô lộ, Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn” (tạm dịch: Núi cùng nước tận ngờ hết lối, Bóng liễu hoa tươi một thôn làng). Ý tứ là: giữa cảnh núi non trùng điệp, sông ngòi chằng chịt, tưởng như không còn đường đi nữa, thì bỗng nhiên ở ngay trước mắt, phát hiện thấy trong bóng râm rặng liễu xanh mát và khóm hoa tươi đẹp rực rỡ sắc màu còn có một thôn làng. Đây là hai câu thơ tả cảnh trữ tình, hàm chứa triết lý phong phú, được mọi người yêu thích và truyền tụng hàng ngàn năm qua.
Vương Duy (700 – 761), tự là Ma Cật, là một đại thi nhân, họa sĩ và nhạc gia thời Thịnh Đường. Thơ ông miêu tả sự vật tinh tế, sinh động, đầy thần thái; ngôn từ thanh nhã, thoát tục, thể hiện trình độ nghệ thuật cao siêu, phong cách thơ của ông độc đáo, tự thành một trường phái riêng. Ông giỏi nhiều thể loại thơ, thành thạo trong việc sáng tác nhiều đề tài. Vương Duy cùng với Lý Hân, Cao Thích, Sầm Tham và Vương Xương Linh hợp lại với nhau được gọi là “Vương Lý Cao Tằng”, đại diện cho dòng thơ “biên tái” (thơ viết về vùng biên ải); ông cùng Mạnh Hạo Nhiên hợp lại được gọi là “Vương Mạnh”, đại diện cho dòng thơ điền viên (thơ về cuộc sống thôn quê). Những kiệt tác thơ biên tái của ông đa số là thất ngôn cổ thi, còn trong các bài thơ điền viên nổi bật đa phần là các bài ngũ ngôn luật thi. Về “thiền thi” (thơ mang tư tưởng thiền), ông lại càng xuất chúng, từ xưa đến nay không ai theo kịp, nên được tôn xưng là “Thi Phật”. Nhiều tuyệt phẩm lưu truyền rộng rãi của ông thuộc thể ngũ tuyệt: chỉ vỏn vẹn 20 chữ nhưng đã thể hiện trọn vẹn tâm tư, cảm xúc và triết lý mà trăm ngàn năm sau người ta vẫn đàm luận mãi không hết. Những bài thơ nổi tiếng của ông bao gồm: “Lộc Trai”, “Trúc Lý Quán”, “Sơn Trung”, “Tương Tư” và “Tạp Thi (kỳ 2)”… Vương Duy cũng là bậc thầy hội họa, ông giỏi vẽ các thể loại tranh phá mặc sơn thủy (tranh phong cảnh vẽ bằng lối phá mực) và tùng thạch (tranh vẽ tùng trên đá), ông cũng giỏi vẽ nhân vật, chân dung, và khóm trúc. Bút lực của ông hùng tráng, ông là người đi đầu trong việc sử dụng kỹ thuật thuân pháp (vẽ bằng các đường ngắn gãy) và tuyển vựng (tô màu loang) để tạo chiều sâu bố cục, đặc biệt là với cảnh bình viễn (cảnh xa bằng phẳng). Ông được hậu thế suy tôn là tổ sư của “Nam Tông” và người đứng đầu trong số các văn nhân vẽ tranh. Tác phẩm hội họa “Võng Xuyên Đồ”, vẽ những dãy núi trập trùng, cây cối um tùm, mây trôi nước chảy. Tô Thức thời Bắc Tống từng khen ông rằng: “Trong thơ có họa, trong họa có thơ”.
Vương Duy mồ côi cha từ sớm, mẹ ông là một cư sĩ Phật giáo rất thành kính, điều này có ảnh hưởng lớn đến việc sau này ông ăn chay và tu Phật cả đời. Những thăng trầm trong cuộc sống của ông lại càng góp phần khiến ông nhìn cuộc đời nhẹ nhàng và kiên định với lòng tin vào Phật: năm 21 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và được bổ nhiệm làm Đại Nhạc Thừa. Nhưng vì một nhóm đào hát biểu diễn điệu múa sư tử vàng phạm tội mà bị liên lụy, ông bị giáng chức làm Tư Thương Tham Quân ở Tế Châu. Đến thời loạn An Sử, ông bị An Lộc Sơn bắt giam và buộc phải nhận chức quan của quân phản loạn. Sau khi loạn lạc được dẹp yên, ông lại vì chuyện này mà bị bỏ tù. Một năm sau, Túc Tông xét thấy ông vô tội nên tha bổng, sau đó trong vài năm, ông liên tiếp được thăng chức đến chức Thượng Thư Hữu Thừa – một chức quan lớn. Có điều lúc này ông đã vào tuổi xế chiều, từ lâu đã xem nhẹ hồng trần rồi.
Trong suốt cuộc đời, ông đã có nhiều thời gian sống ẩn cử. Trước năm 18 tuổi, ông đã từng ẩn cư. Năm 729, ông ẩn cư tại vùng Kỳ Thượng, sau đó chuyển đến núi Tung Sơn, lần này là do từ quan về ở ẩn, cho đến năm 734 mới được triều đình bổ nhiệm làm Hữu Thập Di. Từ năm 741 đến 745, ông lại ẩn cư ở núi Chung Nam. Đến năm 748, ông mua lại biệt viện Võng Xuyên ở Lam Điền của Tống Chi Vấn, từ đó sống cuộc đời nửa làm quan nửa ẩn sĩ, cho đến năm 756 thì bị An Lộc Sơn bắt giữ. [1] Căn cứ vào thơ của ông thì thấy, vào khoảng 40 tuổi, ông đã có tâm tu Đạo. [2] Về cuối đời, ông chủ yếu sống trong thành, trong nhà thường nuôi dưỡng mười mấy vị tăng nhân để cùng nhau giao lưu thể ngộ tu Phật; sau mỗi buổi chầu về, ông lại đốt hương ngồi thiền một mình, chuyên tâm tu tập thiền định.
Trong lúc ẩn cư, ông thường leo núi, bái chùa, cầu Đạo vấn thiền, lòng đầy khát vọng ẩn cư nơi núi rừng thanh tĩnh. Có lúc ông men theo những con đường nhỏ hiểm trở, quanh co uốn lượn mà leo lên đỉnh núi, những ngọn núi kỳ lạ chỉ thẳng lên trời, trên đầu là những tảng đá lớn lởm chởm như muốn rơi xuống bất cứ lúc nào; thác nước và suối reo vang như sấm, tung bọt trắng xóa; cùng các thiền sư trong núi đi đường, có khi bắt gặp bầy khỉ đang nhặt hạt dẻ, lúc trở về lại tình cờ gặp đàn hạc tiên đang làm tổ trong rừng tùng; cây cầu nhỏ đi qua chỉ là thân cây đổ được gác tạm qua suối, hàng rào nơi ở chỉ là những sợi dây leo trên cây lớn buộc tạm lại thành. Khi về tới nơi, khép cửa đá lại, ông an tâm đả tọa, đến khi mở cửa đá một lần nữa thì cỏ ngoài sân đã mọc cao rậm rạp rồi! [3] Có lúc ông leo lên một ngọn núi thật cao, sau rừng trúc sâu là một hang đá dùng làm nơi cư trú, đêm đến khi mọi vật tĩnh lặng, ông nghe được tiếng suối chảy róc rách từ xa vọng lại; từ dưới nhìn lên, chỗ ấy đã là nơi cao vút giữa mây trời, vậy mà ông lại đang nằm nghỉ yên bình ở đây, cảm giác ấy khiến ông thấy lưu trú tạm thời thật chẳng đủ, mà chỉ muốn được ở lại đây mãi mãi. [4] Có lần ông du ngoạn đến một số ngôi chùa trên núi, nơi đó mãnh hổ sống hòa thuận với người, những con khỉ còn có thể học theo người tham thiền đả tọa, khoảnh khắc ấy khiến người ta cảm nhận được Phật quốc hiện ra ngay trước mắt, còn thế gian con người thì trở nên xa xăm mờ ảo, cũng khiến ông tự thấy hổ thẹn với đời sống quan trường mà mong mỏi được sống suốt đời ở nơi đây để tu Phật. [5]
Ngoài những lý do đã kể trên khiến Vương Duy hướng về cửa thiền, thì nỗi khổ và sự giày vò của sinh lão bệnh tử trong đời người cũng là một loại lực lượng thúc đẩy và khai mở tâm linh: có lúc ông ngồi lặng lẽ suy ngẫm giữa đêm khuya, nghĩ đến tóc mai hai bên ngày một bạc trắng, chẳng thể nào đen trở lại, dù có vạn lượng vàng cũng đành bất lực, không khỏi cảm thấy nỗi bi thương dâng trào, và cuối cùng ngộ ra rằng chỉ có học Đạo, thoát khỏi luân hồi mới có hy vọng. [6] Lại có lúc ông hồi tưởng, cảm giác bản thân mới hôm qua còn là chàng thanh niên mặt mày hồng hào rạng rỡ, vậy mà hiện nay răng đã hỏng, sắc diện tàn phai, tóc bạc đã sớm phủ kín đầu; không chỉ vậy, bao nhiêu chuyện thương tâm trong đời cũng cùng lúc trỗi dậy trong tâm. Trước sự giày vò cả thân lẫn tâm như vậy, ngoài việc chăm chỉ tu hành nơi cửa Phật, còn biết đi đâu để giải thoát đây! [7]
Khi đã có đạo tâm kiên định và tu vi chuyên cần, quay đầu nhìn lại cõi đời sẽ có một thế giới quan hoàn toàn khác: bệnh tật trong đời chẳng qua cũng từ chấp trước vào yêu và hận mà sinh; cảm thấy mình nghèo khổ rồi sinh lòng oán trách, chẳng qua cũng bởi có tâm tham dục; con người trong mê lại thành ra lưu luyến cõi trần gian đầy bệnh tật và nghèo khổ này, đối với sinh tử qua lại, lục đạo luân hồi lại không biết chán, lại không hề hay biết rằng sở dĩ con người đến thế gian này chính là vì đã khởi phàm tâm. [8] Những vọng tưởng điên đảo này của con người giống như những con rồng độc quấn chặt bản thân, không thể tự giải thoát, chỉ có tu tập thiền định mới có thể chế ngự những vọng niệm này. [9] Người tu Đạo sau khi nhìn thấu những lý này rồi tự nhiên sẽ an vui với cuộc sống tu Đạo nghèo khó. [10] Hơn nữa, thuận theo việc tâm tính đề cao, cái nhìn về khổ và vui cũng khác với người thường, thường cảm thấy vui mừng khi có sự giác ngộ trong tĩnh lặng, và từ đó dần dần tạo nên khoảng cách với người thường. [11]
Trong thơ của mình, Vương Duy còn nhắc đến một số sự tình cụ thể trong tu luyện: ông thích đọc những truyện ký về các cao tăng đắc Đạo, đôi khi nghiên cứu cả phương pháp tu luyện tịch cốc; ông khắc đầu gậy thành hình chim cu gáy, lấy mai rùa làm vật kê dưới chân giường; khi không có việc gì làm thì đốt hương dưới cửa sổ phía Bắc và ngồi đả tọa. [12] Khi ẩn cư trong núi, ông cùng một nhóm người tụng thiền, cảm nhận được niềm vui khác biệt so với khi ngồi thiền một mình. [13] Trong thời gian ẩn tu tại núi Tung Sơn, ông còn từng có trải nghiệm bế quan tu luyện. [14]
Làm điều ác giống như mài dao trên đá, tuy nhìn không thấy hao tổn rõ rệt, nhưng mỗi ngày tiêu giảm một chút, dần dần bị mòn đi; tu thiện thì như cỏ xuân trong vườn, tuy chẳng thấy nó lớn lên, nhưng mỗi ngày một cao. Không ai hay biết, thuận theo năm tháng trôi qua, Vương Duy đã tu luyện đến cảnh giới cực cao “mắt nhìn mà không nhiễm, lòng rỗng mà không mê”. [15] Khi tu được đến trình độ cao, tự nhiên sẽ xuất hiện một số công năng, nhưng bản thân ông lại không xem trọng điều đó. Đối với thành tựu rất cao của mình trong thơ ca và hội họa, ông chỉ khiêm nhường giải thích rằng: “Ta từ nhiều đời đã là người tinh thông thơ văn, mà đời trước là một họa sĩ. Vì những thói quen xưa kia chưa dứt hết, nên đời này lại bị người đời phát hiện ra thôi”. [16] Tu luyện mười mấy hai mươi năm mà có được công năng như túc mệnh thông cũng chẳng có gì lạ; lời giải thích của ông không chỉ hợp tình hợp lý mà còn rất phù hợp với các quy luật nghiên cứu về luân hồi trong giới học thuật phương Tây hiện đại...
[ChanhKien.org] Câu chuyện này xảy ra ở vùng Triết Giang vào thời nhà Nguyên. Nơi đây từng có lần xảy ra một trận lũ lụt lớn, nước lũ tuy không quá lớn nhưng cũng đã nhấn chìm rất nhiều đồng ruộng và làng mạc. Cũng may trận lụt xảy ra vào ban ngày, rất nhiều người biết được thông tin nên phần lớn người dân đều đã di tản một cách an toàn.
Chỉ còn sót lại một gia đình có hai mẹ con. Người mẹ bị đau chân, cô con gái mới 15-16 tuổi. Nhà cô nằm ở vùng trũng, nên lũ lụt trong nháy mắt đã vào đến cửa. Mẹ cô nài nỉ: “Con mau chạy đi, đừng lo cho mẹ!” Cô con gái nhất định không chịu, muốn cõng mẹ ra ngoài, nhưng thân con gái như cô sao có thể cõng nổi mẹ già? Thuận theo nước lũ không ngừng dâng cao, ngôi nhà cũng bắt đầu nghiêng sang một bên. Mẹ cô dốc hết sức lực đẩy cô con gái ra ngoài lên chỗ cao hơn một chút, trong nháy mắt căn nhà đổ sụp xuống, người mẹ đã vùi thân trong dòng nước lũ. Cô gái thấy vậy liền ngất đi.
Rất lâu sau cô tỉnh lại, phát hiện mình đang nằm trên một con thuyền nhỏ. Vợ của thuyền phu vừa thấy cô tỉnh lại liền bưng nước nóng đến cho cô, giúp cô sưởi ấm người. Khi cô nhớ lại được mọi chuyện, trước tiên cô cảm tạ ơn cứu mạng của vợ chồng thuyền phu. Sau đó, cô bắt đầu òa khóc. Bởi cô từ nhỏ đã nương tựa vào mẹ mà sống, sự ra đi của mẹ là một cú sốc lớn đối với cô. Người thuyền phu an ủi: “Con à, trong trận lũ này, không chỉ có mình mẹ con bị nước lũ cuốn đi mà còn có nhiều người khác cũng cùng cảnh ngộ như vậy, đúng là thiên tai mà!” Cô gái đau xót nghĩ: “Ông Trời chẳng phải có đức hiếu sinh sao, cớ sao lại không ngăn cản thiên tai này? Cớ sao lại bắt người ta nếm trải nỗi thống khổ của sinh ly tử biệt chứ?” Mấy hôm sau lại xảy ra lũ lụt, vì họ ở trên thuyền nên cũng không việc gì. Thuyền phu là người rất trượng nghĩa, ông dẫn theo vợ và cô gái nhỏ chèo thuyền khắp nơi để cứu người. Mấy lần họ suýt bị những người rơi xuống nước kéo xuống. Trong lần cứu người cuối cùng, hai vợ chồng thuyền phu đều bị nước lũ cướp đi sinh mệnh. Trên thuyền chỉ còn lại một mình cô gái. Cô không đủ sức để kéo cái mái chèo nặng nề, chèo được một lát thì mệt rã rời. Cô đành tuyệt vọng nằm trong lòng thuyền, mặc cho chiếc thuyền cứ xuôi dòng mà lênh đênh.
Trải qua năm ngày năm đêm, chiếc thuyền dường như đã tấp được vào bờ, nó mắc kẹt ở nơi đó. Cô gái chỉ còn thở thoi thóp. Lúc đó vừa đúng giờ ngọ, từ trên bờ vang đến âm thanh của một bà cụ gõ cái bình bát. Bà vừa gõ bình bát vừa lẩm nhẩm rằng: “Ta vốn ngoài biển từ trời đến, lưu lạc bờ biển một vùng này, cầm bát hóa duyên thật tự tại, như ngọc như hoa đến khi nào? Như ngọc như hoa đến khi nào?” Cô gái nhỏ nghe xong, không biết sức lực từ đâu đến mà hô lên rằng: “Hoa sen như ngọc là thứ cháu thích nhất!” Bà cụ nghe thấy mừng rỡ chạy một mạch đến bên chiếc thuyền, thấy cô gái chỉ còn hơi thở thoi thóp. Bà ôm cô vào lòng, thật hiền từ giống như bà nội với cháu gái vậy.
Về sau cô cùng bà cụ đi xin ăn. Mười năm sau, vào một đêm mưa to gió lớn, họ nghỉ ngơi trong một ngôi miếu hoang, bà cụ hỏi cô: “Tại sao con lại thích hoa sen và thích ngọc vậy?” Cô cười nói rằng: “Con cảm thấy làm người thì nên cao quý như là hoa sen và thuần tịnh, cứng cỏi như ngọc vậy.”
Bà cụ nghe xong vui mừng nói: “Trên thế gian này, những người có thể đồng thời thích hai thứ này thật sự không nhiều! Con xem nơi này ngay cạnh biển cả, người ta thường xuyên đi biển, nhưng cũng thường có người chôn thân nơi đáy biển, ta thật sự không nhẫn tâm. Vậy nên ta thường đi xin ăn trên bờ biển, phàm là những người cho ta cơm ăn, chỉ cần họ không làm những chuyện giết người hại mệnh, trộm cướp, ta sẽ gắng hết sức giúp họ vượt qua kiếp nạn trong sóng gió.”
Cô gái nghe xong cảm thấy lời của bà cụ có ẩn ý sâu xa, liền hỏi: “Lão nhân gia, lẽ nào người chính là Bồ tát Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn chuyển thế hay sao?” Bà cụ từ bi nói: “Ta là ai vốn không quan trọng, quan trọng là con hãy hiểu rõ một điều: nhất định phải cứu độ chúng sinh thoát khỏi nguy nan. Nhưng có một điều kiện tiên quyết: nếu như con người đều không tin vào Thần nữa, vậy thì cứu họ chính là làm trái với lẽ Trời.” Cô gái nghe xong lập tức hiểu rõ. Cô quỳ xuống dập đầu, mong lão nhân gia có thể đem năng lực cứu khổ cứu nạn truyền cho cô, tương lai cô cũng muốn ở nơi này cứu độ chúng sinh khỏi nguy nan! Lão nhân gia thấy cô một lòng thành tâm liền thu cô làm đệ tử. Sau đó bà nói với cô rằng: “Thật ra khi con ở quê nhà vùng Triết Giang, ta đã dõi theo con rồi, bởi căn cơ của con rất tốt, là người hiếu thuận, trượng nghĩa. Lúc đó, con tuy còn nhỏ tuổi, nhưng luôn hết lòng hết sức giúp đỡ người khác. Mẹ của con tuy chôn thân trong nước lũ, nhưng nhờ con tu hành, mẹ của con cũng sẽ có đại phúc báo chờ đợi bà. Vợ chồng thuyền phu cũng vậy. Thật ra, cớ sao cuộc đời con lại phải trải qua những khổ nạn này, chính là để con nhìn thấu những hư huyễn và vô thường của đời người, đề con không có lòng tham luyến cõi trần. Suốt 10 năm nay, chúng ta cùng nhau đi xin ăn, gặp đủ các dạng các loại người, vô luận người khác đối xử với chúng ta thế nào, ta đều không xem trọng, phàm là những người cho ta cơm ăn, ta đều sẽ tận lực giải thoát cho họ trong nguy nan. Còn những người đối xử rất ác với chúng ta, ta cũng cấp thêm cơ hội cho họ. Những người nào thật sự tâm ma nhiễu loạn thì chẳng còn cách nào, đành phó mặc họ thôi.” Nghe xong những lời khải thị này, cô càng thêm kiên định tín tâm theo sư phụ tu hành.
Thấm thoắt lại 20 năm nữa trôi qua. Cô thiếu nữ năm xưa giờ đã là một phụ nữ trung niên khoảng hơn 50 tuổi. Một ngày kia, bà cụ nói với cô rằng: “Ta có việc cần phải đi rồi, những việc còn lại, tự con hãy tùy tình huống mà làm. Phải rồi, ta chọn con làm đồ đệ duy nhất của ta chính là hy vọng con có thể làm tốt những việc vốn thuộc về ta.” “Sư phụ, những việc của người là gì vậy?” Cô hiếu kỳ hỏi. Bà cụ bảo cô xoay người đi, đến khi cô quay đầu nhìn lại thì bỗng ngẩn người ra: không thấy bà cụ vốn bị mù hai mắt đâu nữa, chỉ thấy một vị Bồ tát uy nghiêm vô tỷ đang đứng trước mặt cô. Vẻ từ bi, thù thắng đó dẫu dùng bất cứ ngôn ngữ nào của nhân gian cũng không có cách nào diễn tả được. Cô cúi xuống bái lạy. Bồ tát chỉ tay một cái, thấy biển cả mênh mông bỗng nổi trận cuồng phong tứ bề, vô số con thuyền nhỏ đáng thương đang lênh đênh ở đó, Bồ tát chìa bàn tay ngọc còn lại thu rất nhiều thuyền nhỏ vào trong tay, có một số thuyền nhỏ thì lật chìm xuống đại dương mênh mông. Nhìn kỹ những con thuyền nhỏ được Bồ tát giữ trong bàn tay ngọc kia, trên mạn thuyền đều có một chữ “phúc” hoặc “đức”. Còn trên mạn những con thuyền bị lật chìm xuống đại dương bao la kia hầu hết đều có một vết đen hoặc vòng tròn màu đen rất lớn.
Sau khi triển hiện cho cô thấy những cảnh này, thân thể Bồ tát bắt đầu phiêu đãng bay lên. Cô quỳ xuống đất nghênh tiễn sư phụ. Khi thân thể Bồ tát bay đến giữa không trung, Bồ tát nói:
Thương xót chúng sinh đến thế gian
Thiện ác một niệm thấu trời xanh
Con cầm bát ta kết duyên tiếp
Từ bi cam lộ độ nguy nan!
Cô nghe những lời khai thị này, trong lòng đã hiểu rõ hơn một nửa, trong những năm tháng về sau, dấu chân của cô đã đi khắp các vùng ven biển, không ngừng dùng phương thức hóa duyên để kết duyên với chúng sinh, giáo hóa chúng sinh. Trong thời gian đó cô cũng không ngừng thăng hoa tâm tính của bản thân, cuối cùng khi ở tuổi 99, cô đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình mà viên mãn về Trời.
Ở thiên giới, cô gặp lại mẹ ruột của cô và hai vợ chồng thuyền phu. Để cảm tạ ơn cứu mạng nơi cõi người của mẹ cô và vợ chồng thuyền phu, cô đã phong cho họ làm Thiên Thần hộ Pháp.
Bản sao các bài thơ của “Lan Đình tập tự”. (Ảnh: Shenyun.com)
Năm 353 (năm Vĩnh Hòa thứ 9 triều vua Tấn Mục Đế), vào ngày mùng 03 tháng 03 âm lịch Vương Hi Chi cùng các nhân sĩ nổi tiếng như Tạ An, Tôn Xước… tổng cộng có 41 người cùng tổ chức hội thơ ở Lan Đình tại núi Hội Kê thuộc huyện Sơn Âm (nay thuộc Triệu Hưng, Chiết Giang). Những người dự hội đã sáng tác thơ phú nói lên hoài bão của mình và chép thành một tập, sau đó mọi người đề nghị người mở hội – nhân sĩ Vương Hi Chi đức cao vọng trọng viết lời mở đầu ghi lại buổi nhã hội này, chính là bức “Lan Đình tập tự”.
Bức “Lan Đình tập tự” có một vị trí cực cao trong lịch sử văn học, và trong lĩnh vực thư pháp nó cũng đạt đến vị trí đỉnh cao mà chưa tác phẩm nào có thể vượt qua.
Chúng ta đều biết rằng Vương Hi Chi là một nhà thư pháp vĩ đại, kỳ thực ông còn là một đạo sỹ. Trong quyển “Tấn Thư” Vương Hi Chi viết rằng: “Thế sự Trương thị Ngũ đấu mễ đạo, hựu tinh thông thư đạo”, nghĩa là chuyện thế sự của người họ Trương là đạo năm đấu gạo, lại tinh thông thư pháp. Nhiều thế hệ trong đại gia tộc Vương Hi Chi đều là những tín đồ Đạo giáo thành tín, vị tổ mà họ tín phụng chính là ông tổ Trương Đạo Lăng của phái Thiên Sư Đạo. Trong bộ sách “Tiềm phu luận” của Vương Phù đời Hán có đoạn ghi chép: “Nhân thị Vương thị, kỳ hậu tử tôn, thế hỉ dưỡng tính, thần tiên chi thuật” (Thế là từ đó con cháu họ Vương đều thích tu tâm dưỡng tính, học phép thuật của Thần tiên). Vương Hi Chi thường “cùng đạo sỹ Hứa Mại tu luyện, uống đan dược, vượt ngàn dặm hái thuốc, đi khắp các quận phía Đông, vượt khắp danh sơn, băng qua biển thẳm”. Lối thư pháp của ông vì thế mà cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Đạo giáo. Những khi nhàn rỗi Vương Hi Chi hay sao chép kinh sách Đạo giáo, trong đó nổi tiếng nhất là bản chép tay “Hoàng Đình Kinh”, do vậy giải thích từ góc độ tu luyện thì tuyệt phẩm “Lan Đình tập tự” cũng là tự nhiên thuận bút thành văn, nếu từ tầng của người thường thì thực sự không thể giải thích được.
Sau đây chúng ta hãy cùng phân tích nội dung bức “Lan Đình tập tự”:
Vĩnh Hòa cửu niên, tuế tại Quý Sửu, mộ xuân chi sơ, hội vu Cối Kê Sơn Âm chi Lan Đình, Tu Hễ sự dã. Quần hiền tất chí, thiếu trưởng hàm tập. Thử địa hữu sùng sơn tuấn lĩnh, mậu lâm tu trúc; hựu hữu thanh lưu kích thoan, ánh đới tả hữu. Dẫn dĩ vi lưu trường khúc thuỷ, liệt tọa kỳ thứ; tuy vô ty trúc quản huyền chi thịnh, nhất trường nhất vịnh, diệc túc dĩ sướng tự u tình. Thị nhật dã, thiên lãng khí thanh, huệ phong hòa sướng; ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh; sở dĩ du mục sính hoài, túc dĩ cực thị thính chi ngu, tín khả lạc dã.
Tạm dịch: Năm Kỷ Sửu, Vĩnh Hòa thứ chín, sắp vào tiết xuân; cùng họp nhau nơi Lan Đình, phía Bắc núi Cối Kê, chuẩn bị lễ Tu Hễ [1]. Những hiền sĩ, già có trẻ có, đều đến tụ họp. Nơi ấy có núi cao chót vót, rừng xanh rậm rạp, trúc dài tươi tốt, thêm suối trong cuộn chảy, lấp loáng bóng đôi bờ. Theo dòng nước uốn lượn có thể thả chén rượu đặt lời thơ, chia thứ bậc cùng ngồi. Tuy không có tiếng đàn sáo rộn rã nhưng một chén rượu, một lời ngâm cũng đủ để giãi bày tâm tình sâu kín. Hôm ấy trời cao khí trong, gió nhẹ lâng lâng, ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy.
Ở hai đoạn đầu này lời văn được viết trong sáng, dễ hiểu. Rõ ràng là Lan Đình và khung cảnh xung quanh trông rất đẹp, đến một kẻ phàm phu cũng phải thấy lâng lâng tức cảnh sinh tình. Khi luận giải “Lan Đình tập tự” người ta cũng chỉ có thể hiểu đến thế mà thôi. Tuy nhiên có một điểm mà người bình thường không nhận thức ra được: Vương Hi Chi và các danh sĩ đều là những người tu Đạo, buổi họp mặt này kỳ thực chính là buổi giao lưu chia sẻ tu luyện; hơn nữa họ đều có căn cơ rất tốt, trong đó không ít người có thiên mục khai mở đến một tầng nhất định, có thể nhìn thấy, tiếp xúc được với nhiều thứ mà người thường trong cùng một hoàn cảnh không thể nhìn thấy, chạm đến được hay tiếp thụ được. Thế nên họ mới đạt tới cảnh giới “ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy”.
Đoạn sau: Phù nhân chi tương dữ, phủ ngưỡng nhất thế, hoặc thủ chư hoài bão, ngộ ngôn nhất thất chi nội; hoặc nhân ký sở thác, phóng lãng hình hài chi ngoại. Tuy thú xá vạn thù, tĩnh táo bất đồng; đương kỳ hân vu sở ngộ, tạm đắc vu kỷ, khoái nhiên tự túc, bất tri lão chi tương chí. Cập kỳ sở chi ký quyện, tình tuỳ sự thiên, cảm khái hệ chi hĩ. Hướng chi sở hân, phủ ngưỡng chi gian, dĩ vi trần tích, do bất năng bất dĩ chi hứng hoài; huống tu đoản tùy hoá, chung kỳ ư tận. Cổ nhân vân: “Tử sinh diệc đại hĩ.” Khởi bất thống tai!
Tạm dịch: Phàm người cùng người tương hội chỉ là trong thoáng chốc của cuộc đời; có người khi giao tiếp là giữ kín hoài bão trong lòng không nói, có người vì sự ký thác mà gửi hết tâm tư vào hình hài. Tuy muôn vàn sở thích khác nhau, tĩnh động cũng khác, nhưng sự vui vẻ khi gặp nhau, dẫu trong chốc lát, (lại) chẳng biết tuổi già đang đến.
Rồi khi tự thân mòn mỏi, tâm tình theo sự vật đổi thay, lòng đầy cảm khái. Niềm vui trong khoảnh khắc giờ đây bỗng biến thành vết bụi mờ, vậy nên lòng không thể không hoài cảm. Huống chi cuộc đời dài ngắn (thường) biến hóa, rồi cũng đến lúc tận chung. Người xưa nói: “Tử sinh đều là việc lớn”, há chẳng đau lòng sao! (Có bản viết: từng chưa hay tuổi già đang đến, có bản viết: không hay tuổi già đang đến)
Nếu xét từ góc độ tu luyện thì đoạn văn trên rất dễ lý giải, nói thẳng ra những thứ như danh lợi tình mà con người chấp trước đều không bền lâu, không thể tồn tại vĩnh viễn, một khi mất đi sẽ khiến người ta phải thở dài cảm thán.
Và đoạn cuối: Mỗi lãm tích nhân hứng cảm chi do, nhược hợp nhất khế; vị thường bất lâm văn ta điệu, bất năng dụ chi ư hoài. Cố tri nhất tử sinh vi hư đản, tề Bành thương vi vọng tác. Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích, bi phù!
Cố liệt tự thì nhân, lục kỳ sở thuật, tuy thế thù sự dị, sở dĩ hứng hoài, kỳ trí nhất dã. Hậu chi lãm giả, diệc tương hữu cảm ư tư văn.
Tạm dịch: Mỗi khi xét đến cảm hứng trong văn chương của người xưa rồi cùng hợp lại, thì lòng ta lại vì lời văn mà trỗi mối u hoài không giải rõ được vì sao. Cứ khăng khăng cho rằng sống chết đều là chuyện hư dối, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng. Đời sau nhìn lại nay cũng như nay nhìn lại xưa, cả đều buồn thay!
Vậy đây theo thứ tự các thi nhân mà chép lại; tuy tuổi tác chẳng đồng, sự việc có khác nhưng lòng hoài cảm thì như nhất. Người sau xem lại, hẳn vì lời thơ mà gợi niềm thương cảm hơn chăng.
Điểm mấu chốt của đoạn này là câu “cứ khăng khăng cho sống chết đều là chuyện hoang đường, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng”. Trong sách “Tề vật luận” Trang Tử đã giải thích một cách đơn giản về quan điểm trên rằng: mọi vật đang sống là đang chết, đang chết là đang sống (phương sinh phương tử, phương tử phương sinh). Con người chết rồi nhưng nguyên thần bất diệt, nguyên thần sẽ tiến nhập vào luân hồi và một sinh mệnh mới sẽ ra đời. Đứng từ góc độ tu luyện thì rất dễ hiểu, bản thân Vương Hi Chi là người tu Đạo và đã đọc thành thục sách của Trang Tử, không thể nào không hiểu được ý tứ của tiền nhân, vì sao ông lại nói như vậy? Kỳ thực ý mà ông muốn nói chính là chỉ có tu luyện chân chính mới có thể thoát khỏi luân hồi và có được vẻ đẹp vĩnh hằng của sinh mệnh; nhưng thực tế con đường tu luyện vốn rất gian nan, một người bình thường thân đầy chấp trước, không thể buông bỏ được tí gì mà muốn đạt tới cảnh giới thoát tục là không thể nào, chỉ là “hư dối”, “ngông cuồng”.
Thế nhân luôn cảm thán rằng đời người là vô thường và cố gắng đi tìm con đường vĩnh hằng cho sinh mệnh nhưng họ lại không buông bỏ được trùng trùng chấp trước của người thường, từ xưa đến nay đều như vậy. Qua bài “Lan Đình tập tự” Vương Hi Chi đã sử dụng thủ pháp văn chương để bày tỏ quan điểm của mình.
Điểm khác biệt rất lớn giữa “Lan Đình tập tự” và các tác phẩm nổi tiếng khác được lưu truyền lại là thư pháp của Vương Hi Chi vô cùng đẹp, đẹp đến mức khiến người xem phải nín thở. Cái đẹp nằm ở kết cấu bài văn, đẹp ở kết cấu con chữ, đẹp ở chỗ bút pháp, tất cả hòa quyện lại với nhau và triển hiện đầy đủ trên bức thư pháp này, người đời xưa nay xưng tụng là “Thiên hạ đệ nhất hành thư”. Thế nhân thường dùng những câu sau trong bài “Lạc Thần phú” của Tào Thực để ca tụng vẻ đẹp của thư pháp Vương Hi Chi:...(còn tiếp)
Chánh Kiến Việt Ngữ
Tác giả: Quán Minh
[ChanhKien.org]
Khổng Tử với phẩm hạnh và đạo đức cao thượng đã tận tâm cống hiến cho sự nghiệp giáo dục; mặc dù cả đời nghèo khổ, gần như chưa từng giữ chức quan lớn, nhưng vẫn được coi là bậc “Chí Thánh Tôn Sư” của muôn đời. Trái lại, Tần Cối từng giữ chức Tể tướng triều Tống, quyền thế lẫy lừng, chức quan không hề thấp; thế nhưng, hành vi xấu xa hãm hại người trung nghĩa, bán nước cầu vinh của ông ta đã để lại tiếng xấu muôn đời. Từ đó có thể thấy, một cuộc đời thành công không nhất thiết có liên quan đến việc có làm quan hay không, cũng không phụ thuộc vào chức vị cao hay thấp. “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di” (nghĩa là: Giàu sang không thể làm sa ngã, nghèo hèn không làm thay đổi ý chí) mới là phẩm hạnh mà một người tốt cần phải kiên trì giữ vững.
Vào thời nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, Hoàng Bá và Lệnh Hồ Tử Bá là đôi bạn thân cùng quê. Khi Lệnh Hồ Tử Bá giữ chức Tể tướng nước Sở, Hoàng Bá vẫn chỉ là một viên quan nhỏ ở địa phương. Một hôm, Lệnh Hồ Tử Bá sai con trai mang thư đến cho Hoàng Bá. Khi vị khách quý này rời đi, Hoàng Bá bỗng ngồi bệt xuống ghế, mãi vẫn chưa thể đứng dậy được. Vợ ông cảm thấy rất lạ, bèn hỏi: “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?”
Hoàng Bá đáp: “Vừa rồi ta thấy con trai của Lệnh Hồ Tử Bá dung mạo rạng rỡ, dáng vẻ đường hoàng, phong thái đĩnh đạc; còn ta thì lôi thôi nhếch nhác, trông chẳng khác nào một ông già tồi tàn. Thấy người ta thành đạt, lại nghĩ đến sự bất tài của bản thân. Ta thân bại danh liệt thì cũng chẳng sao, nhưng nghĩ đến việc mình không thể đem lại cho con cái một cuộc sống tốt đẹp như vậy, ta cảm thấy vô cùng hổ thẹn”.
Nghe xong, vợ của Hoàng Bá vô cùng tức giận, lập tức tỏ ý không đồng tình và nói: “Chú trọng sự liêm khiết và giữ gìn phẩm hạnh, sống thanh bần, không ham công danh lợi lộc – đó là điều phu quân vẫn kiên trì từ trước đến nay. Bây giờ, Lệnh Hồ Tử Bá trông có vẻ phát đạt và quyền quý, nhưng đó cũng chỉ là do lựa chọn cuộc đời khác nhau của mỗi người. Hà tất phải đem ra so sánh? Cớ gì phu quân lại vì thế mà cảm thấy hổ thẹn về chí hướng ban đầu của mình, hay cảm thấy hổ thẹn thay cho đám trẻ chứ?”
Sau khi được vợ nhắc nhở, Hoàng Bá vô cùng kính phục trước sự sáng suốt và tấm lòng hiểu thấu nghĩa lớn của vợ. Đúng vậy, giữa những cám dỗ vô hình trong chốn hồng trần cuồn cuộn, nếu một người không có ý chí kiên định thì quả thật rất dễ lo được lo mất, thậm chí lay chuyển cả chí hướng và phẩm hạnh ban đầu của mình. Tuy nhiên, bậc chính nhân quân tử chân chính, một khi đã lập chí, đều sẽ như vợ của Hoàng Bá mà làm được “nghèo hèn không làm thay đổi ý chí” và có được phẩm hạnh cùng ý chí kiên định như vậy. Dù không có chức vị hiển hách hay thành tựu lớn trong đời, họ vẫn dễ dàng nhận được sự tôn kính và công nhận của người đời, lấy đạo đức và phẩm hạnh cao quý mà soi sáng một phương.
Dịch từ: www.zhengjian.org/node/33798
☁️ Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
☁️ Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 week ago | [YT] | 62
View 1 reply
Chánh Kiến Việt Ngữ
☯️Truyền thuyết dân gian: Gia Cát Lượng bái sư học Đạo ☯️
[ChanhKien.org]
✨ Gia Cát Lượng là một nhà quân sự nổi tiếng phò tá Lưu Bị của nhà Thục Hán thời Tam Quốc (220-280 SCN). Ông thường được mô tả là mặc một chiếc áo choàng dài và tay phe phẩy chiếc quạt bằng lông hạc.
✨ Hồi nhỏ, khi Gia Cát Lượng lên 8, 9 tuổi vẫn chưa biết nói, gia cảnh lại nghèo, do đó phụ thân ông đã để ông chăn cừu trên một ngọn núi ở gần đó.
Trên núi có một đạo quán, trong đạo quán có một lão đạo sĩ tóc bạc. Lão đạo sĩ mỗi ngày đều ra ngoài đi du ngoạn. Một ngày nọ, ông trông thấy Gia Cát Lượng và thử trêu đùa cậu bé, thì cậu bé cũng đùa lại với ông. Từ đó Gia Cát Lượng và lão đạo sĩ thường trò chuyện với nhau bằng cách ra dấu tay. Lão đạo sĩ thấy Gia Cát Lượng thông minh khả ái nên đã tiện thể trị bệnh cho cậu. Không lâu sau, bệnh câm của Gia Cát Lượng đã được chữa khỏi.
Khi có thể nói được, Gia Cát Lượng vô cùng cao hứng; cậu hướng về lão đạo sĩ để bái tạ. Lão đạo sĩ nói: “Hãy về nhà nói với cha mẹ rằng ta sẽ thu con làm đồ đệ, dạy con biết đọc biết viết, học thiên văn địa lý, và phép dùng binh bằng Âm Dương Bát Quái. Nếu cha mẹ con đồng ý, thì hằng ngày con hãy đến đây học, không được bỏ buổi nào.”
Kể từ đó, Gia Cát Lượng bái lão đạo sĩ làm sư phụ. Bất chấp gió mưa, hàng ngày Gia Cát Lượng đều lên núi nghe giảng. Cậu thông minh hiếu học, chuyên tâm ghi nhớ, sách chỉ xem qua là đã hiểu, nghe giảng xong là đã nhớ. Vì thế lão đạo sĩ ngày càng thêm quý mến cậu.
✨ Nháy mắt đã bảy, tám năm trôi qua.
Một ngày nọ, khi Gia Cát Lượng đang xuống núi và đi qua một cái “am” bỏ hoang, thì bất ngờ một trận cuồng phong thổi tới, kèm theo mưa gió rợp trời dậy đất. Gia Cát Lượng vội lánh vào trong am để trú mưa, thì bỗng nhiên, một người con gái cậu chưa từng trông thấy tới nghênh đón cậu vào trong nhà. Chỉ thấy cô gái này mày nhỏ mắt to, mảnh mai kiều diễm, tựa như tiên nữ hạ phàm. Gia Cát Lượng cảm thấy bị cuốn hút bởi cô gái. Khi trời tạnh mưa, cô gái tiễn cậu ra cửa, cười nói: “Hôm nay chúng ta coi như đã biết nhau. Từ nay về sau khi lên núi xuống núi thì xin hãy qua đây nghỉ ngơi và dùng trà.” Lúc Gia Cát Lượng từ trong “am” đi ra ngoài thì thấy có hơi chút kỳ quái, làm sao nơi chưa từng đến này lại có người ở.
✨ Từ đó về sau, mỗi lần Gia Cát Lượng tới am, người con gái không chỉ ân cần tiếp đãi, mà còn có thịnh tình muốn giữ lại dùng cơm. Ăn cơm xong hai người không chỉ cười nói mà còn đánh cờ giải khuây. So với đạo quán, nơi đây quả thực là một thế giới khác hẳn. Gia Cát Lượng bắt đầu mê muội mà không tự nhận ra.
Tâm trí Gia Cát Lượng trở nên bị ảnh hưởng, và cậu cảm thấy chán nản khi học tập. Sư phụ giảng đến đâu thì quên đến đó, lời giảng đi vào tai này rồi xuất ra tai kia, không thể ghi nhớ, lúc đọc sách thì không biết là nói về cái gì, càng xem càng không nhớ.
Lão đạo sĩ biết có vấn đề, bèn gọi Gia Cát Lượng đến, thở dài một tiếng rồi nói: “Hủy cây thì dễ, trồng cây thì khó. Ta đã tốn quá nhiều công sức vì ngươi rồi.”
Gia Cát Lượng nghe sư phụ nói biết có chuyện, vội cúi đầu nói: “Sư phụ! Con sẽ không cô phụ một phen khổ tâm của ngài.”
“Lời này hiện tại ta không thể tin”, lão đạo sĩ nhìn Gia Cát Lượng và nói. “Ta thấy ngươi là đứa trẻ thông minh, định dạy ngươi thành tài, nên mới trị bệnh cho ngươi, thu ngươi làm đồ đệ. Mấy năm trước ngươi thông minh cần mẫn, sư phụ ta khổ tâm dạy ngươi cũng không cảm thấy khổ; nào ngờ giờ đây ngươi từ cần mẫn thành lười nhác, tuy thông minh mà cũng uổng công, lại còn nói sẽ không cô phụ một phen khổ tâm của ta, ta tin sao được?”
Lão đạo sĩ lại nói: “Gió không thổi, cây không động, thuyền không đảo, nước không đục.” Nói rồi chỉ vào cây cổ thụ bị rất nhiều dây mây cuốn vào ở trong sân cho Gia Cát Lượng xem. “Ngươi xem, cái cây kia tại sao sống dở chết dở, không thể tăng trưởng lên được?”
“Bởi vì dây mây cuốn rất chặt vào nó khiến nó không lớn được”, Gia Cát Lượng đáp.
“Đúng rồi, cái cây này ở trên núi, nơi đất đá khô cằn, rất cực khổ nhưng vẫn sống tốt vì nó quyết chí mọc rễ xuống dưới, đâm cành lên trên, không sợ nóng, không sợ lạnh, nên càng ngày càng cao lớn. Thế nhưng cái dây mây chỉ cuốn một lúc mà nó đã không lớn lên được, đây gọi là ‘lạt mềm buộc chặt’ đấy!”
Vốn thông minh nhanh trí, Gia Cát Lượng không giấu giếm mà hỏi ngay sư phụ: “Sư phụ, sao ngài biết chuyện?”
Lão đạo sĩ nói: “Gần nước biết tính cá, gần núi rõ tiếng chim. Ta xem thần sắc ngươi, quan sát hành động của ngươi, còn không biết tâm sự của ngươi hay sao?” Lão đạo sĩ ngừng lại một lúc rồi nghiêm sắc mặt, nói: “Nói thật cho ngươi rõ, đứa con gái mà ngươi thích kia chẳng phải là người, nó nguyên là một con tiên hạc trên Thiên Cung, chỉ vì ăn vụng hội bàn đào của Vương Mẫu mà bị Thiên Cung đánh hạ xuống để chịu khổ. Tới nhân gian, nó hóa thành mỹ nữ, văn võ thì không, cày bừa chẳng biết, chỉ biết tầm hoan tác nhạc. Ngươi thấy tướng mạo nó đẹp, nhưng nó chỉ biết có ăn ngủ thôi. Ngươi cứ thần hồn điên đảo thế này, cuối cùng chẳng làm nên trò trống gì đâu. Nếu không theo nó chiều ý nó, nó còn làm hại ngươi.”
✨ Gia Cát Lượng nghe xong sợ quá, vội hỏi xem phải làm sao.
Lão đạo sĩ nói: “Con tiên hạc này có thói quen, là mỗi khi đêm đến thì nó hiện nguyên hình, bay lên thiên hà tắm rửa. Lúc ấy, ngươi tiến vào phòng nó, lấy y phục nó đem đốt đi, y phục nó là mang từ trên Thiên Cung xuống. Bị đốt rồi thì nó không thể hóa thành mỹ nữ được nữa.”
Gia Cát Lượng nghe lời sư phụ dặn dò và rời đi. Trước khi đi, lão đạo sĩ đưa cậu một cây gậy đầu rồng và nói: “Con hạc này khi phát hiện trong am phát hỏa, sẽ lập tức từ thiên hà phi trở xuống, gặp ngươi đang đốt xiêm y của nó, tất không chịu thua. Nếu nó làm hại ngươi, hãy dùng quải trượng này đánh nó, nhớ đấy!”
✨ Giờ Tý đêm hôm đó, Gia Cát Lượng nhẹ nhàng vào trong am, mở cửa phòng, quả nhiên thấy trên giường có một bộ xiêm y, nhưng không thấy người đâu. Cậu lập tức nhóm lửa đốt cháy bộ xiêm y.
Tiên hạc đang lúc tắm rửa trên thiên hà, đột nhiên thấy trong lòng bất an, vội vàng đi xuống nhìn quanh thì thấy trong am có lửa, vội vàng hét to rồi phi trở xuống. Khi thấy Gia Cát Lượng đang đốt xiêm y, nó nhào tới và dùng mỏ mổ vào mắt Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng nhanh mắt nhanh tay, cầm lấy quải trượng, lập tức đánh con hạc rớt xuống đất. Cậu vội chìa tay ra chộp nhưng chỉ nắm được cái đuôi. Tiên hạc liều mạng vùng vẫy thoát ra, vỗ cánh thật mạnh rồi bay vọt lên không trung, nhưng đám lông đuôi thì bị Gia Cát Lượng giứt đứt hết.
Tiên hạc bị cụt đuôi, không còn giống những tiên hạc khác trên Thiên Cung nữa nên vô cùng xấu hổ. Từ đó nó không dám lên thiên hà tắm rửa nữa, cũng không thể biến lại thành mỹ nữ vì đã bị đốt mất xiêm y, đành vĩnh viễn ở tại nhân gian, chui vào lẫn lộn với bầy bạch hạc.
✨ Từ đó Gia Cát Lượng không quên bài học này, đem đám lông đuôi tiên hạc đi cất giữ cẩn thận, lấy đó làm tấm gương để răn mình.
Từ đó về sau Gia Cát Lượng ngày càng cần mẫn, phàm sư phụ giảng gì, đọc sách gì thì đều ghi nhớ, tâm lĩnh thần hội, biến chúng thành thứ của bản thân mình. Lại qua một năm nữa, đúng vào ngày Gia Cát Lượng đốt họa bì của mỹ nữ, lão đạo nhân cười nói với Gia Cát Lượng: “Đồ đệ này, ngươi theo ta đã chín năm rồi, sách gì cần đọc thì đã đọc rồi, điều gì cần truyền thụ thì đã nghe rồi. Có câu nói ‘sư phụ lĩnh tiến môn, tu hành tại cá nhân’, ngươi nay đã 18 tuổi rồi, còn cần lập gia đình, ngươi hãy tự mình xử lý mọi việc.”
Gia Cát Lượng thấy sư phụ nói đã “học xong”, bèn vội vàng khẩn cầu, nói: “Sư phụ, đồ đệ càng học càng thấy học thức nông cạn, con nguyện ở lại với ngài học thêm bản lĩnh.”
“Bản lĩnh chân chính cần phải trong khi thực hành mới có thể đạt được. Sách đã học rồi, còn cần xem Trời Đất thiên biến vạn hóa thế nào, tùy thời mà chuyển, tùy cơ ứng biến, mới có thể hữu dụng được! Hãy lấy con tiên hạc kia làm bài học giáo huấn, từ nay chớ lại để tình sắc làm mê đắm nữa, đây là giáo huấn trực tiếp; hết thảy sự việc trên đời đều không được để giả tướng mê hoặc, nhất định phải xử lý cẩn thận, phải thấy rõ bản chất mới được. Đây coi như lời dặn dò lúc chia tay! Hôm nay ta phải đi đây!”
“Sư phụ, ngài định đi đâu?” Gia Cát Lượng kinh ngạc hỏi. “Từ nay con biết đến đâu tìm ngài?”
“Vân du bốn biển, không có định hướng”, lão đạo sĩ đáp.
Nhất thời không biết làm sao, Gia Cát Lượng nước mắt tuôn rơi, nói: “Sư phụ nhất định phải đi, thì xin nhận đồ đệ một bái, gọi là cảm tạ đại ân dưỡng dục.”
✨ Gia Cát Lượng cúi mình làm lễ, lễ xong ngẩng đầu lên thì đã không thấy sư phụ đâu nữa. Từ đó cũng không nghe nói tung tích của lão đạo sĩ nữa.
Lão đạo sĩ trước khi đi đã đưa cho Gia Cát Lượng một vật, chính là bộ y phục Bát Quái mà sau này ông thường xuyên mặc.
Gia Cát Lượng hoài niệm sư phụ, thường mang chiếc áo Bát Quái trên người, coi như vĩnh viễn cõng sư phụ trên lưng. Gia Cát Lượng không quên giáo huấn của sư phụ, nhất là lời dặn dò lúc chia tay, đặc biệt thường mang theo mình chiếc quạt bằng lông vũ, không rời khỏi tay, để tự răn mình phải hành sự thận trọng. Đây chính là lai lịch chiếc quạt lông vũ trên tay Gia Cát Lượng.
☁️ Xin mời quý độc giả theo dõi toàn bộ bài viết tại link:chanhkien.org/.../truyen-thuyet-dan-gian-gia-cat...
☁️ Link radio Gangjingworld: www.ganjingworld.com/.../1fdivtmdgct4URQc7msJgTKW.….
☁️ Link radio Youtube:https: https://www.youtube.com/watch?v=MA83F...
☁️ Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
☁️ Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
2 weeks ago | [YT] | 83
View 2 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
[Chanhkien.org]
【Giải nghĩa】 Trong tiếng Trung, thành ngữ “liễu ám hoa minh” là chỉ mắt nhìn thấy tình huống không còn đường tiến nữa, thì đột nhiên xuất hiện chuyển biến và hy vọng.
【Ví dụ】 Sau khi anh ấy trải qua hết lận đận trong cuộc sống, giờ đây đúng là đã ‘liễu ám hoa minh’ rồi (trong hoàn cảnh khốn khó, mà tìm được lối thoát).
【Gần nghĩa, trái nghĩa】 ‘hoa hồng liễu lục, hoa kiều liễu mị’ (hoa đỏ liễu xanh, hoa đẹp liễu tươi—chỉ cảnh sắc tươi đẹp); ‘sơn cùng thủy tận’ (núi cùng nước tận—lâm vào cảnh tuyệt vọng).
【Điển cố】
Thành ngữ này lấy từ bài thơ Đường «Ma Ha Trì tống Lý thị ngự chi phong tường» của Võ Nguyên Hành. Thi nhân yêu nước Lục Du nổi tiếng thời Nam Tống kiên quyết chủ trương kháng Kim, bị tước mất chức quan. Lục Du trở về cố hương Sơn Âm (nay là Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang), chỉ ngồi đọc sách qua ngày.
Một ngày, Lục Du đi chơi xa, vượt qua con đường có non có nước, đi được hơn một canh giờ, nhà cửa ngày càng thưa thớt. Khi ông leo lên một sườn dốc phóng mắt nhìn, chỉ thấy trước mặt núi non trùng điệp, sông ngòi chằng chịt, tựa như không còn đường đi nữa. Nhưng Lục Du ham chơi nên không muốn quay đầu. Ông men theo sườn núi đi về phía trước, được mấy chục bước, rẽ qua góc núi, thì đột nhiên phát hiện ở trong một thung lũng gần đó có một thôn trang nhỏ. Nơi ấy hoa đỏ liễu xanh, cảnh sắc xinh tươi, hệt như cõi bồng lai trong truyền thuyết.
Trở về nhà, Lục Du có ấn tượng sâu sắc với chuyến tản bộ xa này, mới sáng tác bài thơ luật thất ngôn «Du Sơn Tây thôn», trong đó có hai câu: “Sơn trùng thủy phục nghi vô lộ, Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn” (tạm dịch: Núi cùng nước tận ngờ hết lối, Bóng liễu hoa tươi một thôn làng). Ý tứ là: giữa cảnh núi non trùng điệp, sông ngòi chằng chịt, tưởng như không còn đường đi nữa, thì bỗng nhiên ở ngay trước mắt, phát hiện thấy trong bóng râm rặng liễu xanh mát và khóm hoa tươi đẹp rực rỡ sắc màu còn có một thôn làng. Đây là hai câu thơ tả cảnh trữ tình, hàm chứa triết lý phong phú, được mọi người yêu thích và truyền tụng hàng ngàn năm qua.
Dịch từ:
www.zhengjian.org/node/118875
Link bài viết: chanhkien.org/2013/07/dien-co-thanh-ngu-lieu-am-ho…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
3 weeks ago | [YT] | 93
View 1 reply
Chánh Kiến Việt Ngữ
🦌 Câu chuyện đạo đức truyền thống Trung Hoa (Hiếu) (6): Đàm Tử lấy sữa hươu 🦌
[ChanhKien.org]
✨ Đàm Tử là người thời Xuân Thu. Bản tính ông vô cùng hiếu thuận, cha mẹ ông về già hai mắt đã lòa không nhìn rõ; khi nghe người ta nói uống sữa hươu mắt có thể sẽ tốt lên; Đàm Tử liền đi mượn một bộ y phục da hươu, cải trang thành một con hươu rồi đi trong núi sâu, trà trộn vào bầy hươu để lấy sữa của chúng. Người thợ săn nhìn thấy “con hươu” dường như đang bất động, liền rút mũi tên ra định bắn nó. Đàm Tử liền vội cuống quýt đứng dậy, cởi bỏ bộ da hươu, đồng thời kêu lớn rồi kể rõ tường tận sự tình cho người thợ săn, nhờ đó mới tránh được nguy hiểm bị bắn chết. Người thợ săn nghe xong vô cùng cảm động liền mang sữa hươu ra đem cho ông. Đàm Tử vừa mang sữa hươu về nhà, cha mẹ ông sau khi uống xong, hai mắt đã sáng trở lại.
Về sau, Đàm Tử trở thành vua của nước Đàm, tuy rằng nước Đàm nơi ông cai trị là một nước nhỏ, nhưng lại rất nổi tiếng; nguyên nhân chủ yếu là nhờ vào thành tựu chính trị, tài năng, lòng nhân đức và hiếu hạnh của Đàm Tử đã giúp ông thu phục được lòng dân.
✨ Đàm Tử trị quốc chú trọng đức, thực thi theo nhân nghĩa, ân uy thưởng phạt phân minh, khiến dân chúng đều thành tâm tín phục ông; điều này đã giúp cho văn hóa đất Đàm phát triển và tính tình người dân trở nên thuần phác và đôn hậu, một số luật lệ và chế độ quy định của triều đình còn được bảo lưu lại, và có ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến các thế hệ sau.
Bậc đế vương các triều đại xưa đã xem Đàm Tử như là hóa thân của đức, tài, uy, nhã; Đàm Tử sau khi qua đời, người đời sau đã lập mộ và dựng lên miếu Đàm Tử để tưởng nhớ ông.
✨ Theo tư liệu liên quan được ghi chép lại, đương thời trong Đàm Tử miếu có “Tam Thánh” tượng; tức là ba vị Khổng Tử, Lão Tử và Đàm Tử. Từ đó có thể thấy được người xưa đối với Đàm Tử rất yêu mến, tôn kính và sùng bái ông.
🌿 Xin mời quý độc giả theo dõi toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../cau-chuyen-dao-duc-truyen-thong.….
🌿 Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
🌿 Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 month ago | [YT] | 55
View 0 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
❤️🩹 Sự oán giận: Vị khách gây hại trong trái tim con người ❤️🩹
[ChanhKien.org]
Có một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng nọ kể về một cậu bé có tính khí thất thường. Người cha đưa cho cậu bé một túi đinh và bảo cậu bé hãy đóng một chiếc đinh vào hàng rào sau nhà bất cứ khi nào cậu cảm thấy tức giận hoặc bực bội. Cậu bé hăng hái đóng đinh, và chẳng mấy chốc, hàng rào đầy đinh. Cuối cùng, người cha yêu cầu cậu bé nhổ từng chiếc đinh một. Khi cậu bé nhổ chúng ra, cậu thấy những lỗ thủng.
“Những lỗ thủng này giống như những vết sẹo để lại bởi sự oán giận của con”, người cha nói. “Sự tức giận và đau đớn có thể biến mất, nhưng vết sẹo vẫn còn đó”.
Oán giận hằn sâu trong trái tim chúng ta không chỉ về tinh thần mà còn là về thể chất. May thay, chúng ta có cả cách chữa trị và phòng ngừa.
🌿 Cái giá của sự oán giận trong tâm
Trong một nghiên cứu được chủ trì bởi ông Robert Enright, nhà nghiên cứu tiên phong về sự tha thứ và là giáo sư tâm lý giáo dục tại Đại học Wisconsin– Madison, 17 bệnh nhân nam mắc bệnh về tim đã được quan sát để đo lường tác động của sự oán giận và tha thứ lên tim của họ.
Ông Enright yêu cầu họ nhớ lại những bất công trong quá khứ mà họ chưa tha thứ. Khi họ chia sẻ câu chuyện của mình, các thiết bị y tế cho thấy các động mạch dẫn máu đến tim của họ bắt đầu co lại, làm giảm lưu lượng máu. Phản ứng này biểu thị “sự khép kín” xảy ra khi chúng ta ôm giữ mối hận thù.
Ông Enright chia sẻ với The Epoch Times rằng những phát hiện này cho thấy việc giảm bớt sự oán giận có thể bảo vệ tim, có khả năng làm giảm cơn đau ngực và thậm chí là tử vong đột ngột ở bệnh nhân mắc bệnh tim mạch.
Theo một phân tích tổng hợp trên Tạp chí của Học viện Tim mạch Hoa Kỳ, ngay cả những người khỏe mạnh dễ nổi giận và kém thân thiện — đặc trưng rõ ràng của sự oán giận — cũng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao hơn 19%. Đối với những người có tiền sử bệnh tim, nguy cơ này tăng lên 24%. Một nghiên cứu năm 2024 đã chứng minh điều này, cho thấy sự tức giận kéo dài dẫn đến rối loạn chức năng mạch máu.
Ông Enright hồi tưởng câu chuyện về một người phụ nữ ngoài 80 tuổi mà ông gặp trong viện dưỡng lão. Bà đã mang trong mình nỗi oán giận với một thành viên trong gia đình hơn 40 năm vì một sự bất công chưa được giải quyết.
“Hãy nghĩ về điều đó”, ông Enright chia sẻ. “Điều đó sẽ chẳng có tác dụng gì nhiều đối với người gây ra sự bất công”. Thay vào đó, ông nói, nỗi cay đắng dai dẳng lại làm cạn kiệt hy vọng và làm giảm niềm vui của bà trong những năm cuối đời.
🌿 Hiệu ứng kéo dài
Không giống như cơn giận bùng lên rồi tắt dần, sự oán giận giống như một loại độc dược từ từ.
Khi bị đối xử bất công, theo bản năng chúng ta sẽ dựng lên lá chắn làm từ sự phẫn nộ, tin rằng điều đó bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn thương thêm nữa. Trước mắt, điều đó có thể mang lại cảm giác được trao quyền. Ông Enright cho biết, “Giống như chúng ta tự nhủ rằng, ‘Bạn không thể đối xử với tôi theo cách này'”.
Nhưng sự oán giận lưu giữ thật lâu trở thành thứ mà ông gọi là “vị khách gây hại trong trái tim con người”.
Nguồn gốc của từ này—đến từ tiếng Pháp cổ là từ “resentir” có nghĩa là “cảm nhận lại một lần nữa” hay là trải nghiệm lại một cảm giác mãnh liệt — minh họa một trong những đặc điểm nổi bật của oán giận: sự nghĩ đi nghĩ lại.
Những người oán giận có xu hướng nghĩ đi nghĩ lại về điều bất công đó. Nhà triết học Amélie Rorty mô tả sự oán giận là “nuôi dưỡng” chính nó bằng quá khứ, nhai lại những ký ức đau đớn về sự sỉ nhục, bị xúc phạm và tổn thương, phun ra chúng cho đến khi chính sự cay đắng của chúng có được hương vị thơm ngon”.
Sự nghĩ đi nghĩ lại lan khắp cơ thể chúng ta và gây ra tình trạng căng thẳng mãn tính. Căng thẳng này dẫn đến mức cortisol và adrenaline tăng cao làm suy yếu hệ thống miễn dịch, khiến chúng ta dễ mắc bệnh hơn.
Nghĩ đi nghĩ lại cũng có thể dẫn đến trầm cảm, tức giận dữ dội, hành vi hung hăng và xu hướng tự tử.
“Bởi vì sự oán giận là một cảm xúc bị kìm nén, khi phát triển và trở nên trầm trọng hơn, nó trở thành nam châm thu hút những oán giận khác”, bà Kerry Howells viết trong cuốn sách mang tên “Gỡ rối cho quý vị: Làm sao ta có thể biết ơn khi ta cảm thấy quá oán giận? (Untangling You: How Can I Be Grateful When I Feel So Resentful?)”
“Việc thức trắng đêm để suy nghĩ về nỗi oán giận hiện tại thường khiến ta nhớ đến những nỗi oán giận khác không liên quan”.
Tiến sĩ Ann Corson, một bác sĩ y khoa tích hợp kết hợp phương pháp chữa bệnh về thể chất lẫn tinh thần, giải thích rằng những người có sự oán giận sâu sắc thường phải vật lộn với sự không hài lòng trong nhiều khía cạnh của cuộc sống như công việc, các mối quan hệ và thậm chí là chính thân thể của họ – tạo thành một vòng phản hồi tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe của họ.
Theo thời gian, sự oán giận chuyển thành một thế giới quan. Nó thuyết phục chúng ta coi mọi người như kẻ thù và thế giới về cơ bản là bất công. Đôi khi, sự oán giận của chúng ta không hướng đến một người mà là hoàn cảnh của chúng ta. Chúng ta tự hỏi tại sao mình lại phải chịu những khó khăn nào đó và có thể phát triển một cảm giác bất công sâu sắc về số phận của chúng ta trong cuộc đời.
Ông Enright cho biết nó trở thành một phần con người chúng ta và rất khó để nhận ra, ngay cả với chính bản thân mình.
Nó không chỉ giới hạn ở một cá nhân; sự oán giận có thể trải rộng khắp các gia đình và cộng đồng.
“Sự oán giận có xu hướng được di truyền”, ông Enright nói. “Nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nếu cha mẹ thể hiện nó và làm gương cho con cái họ”.
🌿 Giải thoát khỏi sự oán giận
Vậy làm sao chúng ta có thể đuổi vị khách gây hại này ra khỏi trái tim mình?
Theo ông Ryan Blackstock, một giáo sư và nhà tâm lý học lâm sàng chuyên về điều trị chứng nghiện, để giải quyết sự oán giận, trước tiên bạn phải hiểu về nó.
“Nó đến từ đâu? Tình hình lúc đó thế nào?” ông nói với The Epoch Times. “Và có lẽ quan trọng nhất là, mục đích của nó hiện tại là gì? Mọi sự oán giận đều có mục đích”.
Ông Enright trình bày một quá trình tha thứ để kiểm soát sự oán giận gồm bốn giai đoạn: giai đoạn khám phá, giai đoạn quyết định, giai đoạn hành động và giai đoạn tháo gỡ.
Trong giai đoạn khám phá, chúng ta hướng đến việc hiểu cảm xúc của mình, nhìn nhận tổn thương và nhận thức được sự oán giận đã ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta như thế nào.
Ông Enright chia sẻ câu chuyện về một người phụ nữ đã chịu đựng tổn thương sâu sắc từ cha mình. Cô nhận ra rằng sự oán giận lâu dài của cô đã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống của cô — làm căng thẳng các mối quan hệ, làm giảm lòng tự trọng và phủ bóng đen lên tương lai của cô. Bằng cách đối mặt với những cảm xúc này, cô bắt đầu thấy được oán hận đã giam cầm cô như thế nào.
Trong giai đoạn quyết định, cô đã có ý thức chọn tha thứ — không phải để tha thứ cho cha cô về hành động của ông, mà là để giải thoát bản thân khỏi xiềng xích của sự oán hận. Cô nhận ra rằng bấu víu vào sự tức giận chỉ kéo dài thêm nỗi đau khổ của cô.
Ông Enright cho rằng sự tha thứ là “phương thuốc” chữa căn bệnh oán giận. Ngược lại với oán giận, tha thứ có liên quan đến việc giảm tỷ lệ cholesterol — chỉ số dự báo chính của bệnh động mạch vành. Hơn nữa, những người thực hành sự tha thứ có huyết áp thấp hơn và phản ứng tim tốt hơn những người hay bị căng thẳng.
Ngoài quyết định tha thứ, giai đoạn hành động đòi hỏi phải thay đổi góc nhìn của người đó. Người phụ nữ bắt đầu tìm hiểu về quá khứ của cha mình, khám phá ra những khó khăn và tổn thương của ông. Hiểu được những khó khăn của ông không thể bào chữa cho những hành vi của ông nhưng đã làm dịu sự oán giận của cô. Sự cảm thông mới xuất hiện này đã khiến lòng trắc ẩn nảy mầm trong trái tim cô, cho phép cô “bào mòn sự oán giận”, ông Enright cho biết.
Cuối cùng, trong giai đoạn tháo gỡ, cô bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa cho sự đau khổ của mình. Với lòng khoan dung, cô đã chọn chăm sóc người cha đang hấp hối của mình, thậm chí còn cho ông ăn trong những ngày cuối đời.
“Sau khi cha cô qua đời, cô chia sẻ, ‘Tôi rất thoải mái vì đã làm điều này, bởi vì, sau cùng, ông ấy là cha tôi; nếu tôi không tha thứ cho ông ấy, tôi sẽ đau buồn và căm ghét trong lòng. Bây giờ chỉ còn đau buồn mà thôi’”, ông Enright nói.
Trong nhiều trường hợp như thế, ông nói rằng “tha thứ có thể giúp quý vị lấy lại cuộc sống”.
Theo Tiến sĩ Corson, khi sự oán giận tiêu tan, tâm trí, thân thể và tinh thần có thể bắt đầu được chữa lành.
...
✨ Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../su-oan-gian-vi-khach-gay-hai...
✨ Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
✨ Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 month ago | [YT] | 87
View 2 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
🌸 Hữu đức tự nhiên hương: Nữ đức - Tương trợ chồng 🌸
[ChanhKien.org]
Phần trước chúng ta đã điểm lại những yêu cầu về việc giáo dưỡng nữ nhi hiền lương thục đức trong các sách cổ. Trong phần này, chúng ta tiếp tục tìm hiểu xem một thục nữ đoan trang sau khi xuất giá nên đối đãi thế nào trong các mối quan hệ với nhà chồng, làm thế nào chăm lo gia đình đúng mực, tương trợ chồng đúng cách.
Trước hết, hãy xem lại chương “Phụng sự chồng” trong sách “Nữ luận ngữ”:
✨ Nữ nhi xuất giá, chồng là người thân. Duyên phận kiếp trước, kiếp này hôn nhân.
✨ Coi chồng như trời, nghĩa này chẳng nhẹ. Chồng cương vợ nhu, ân ái tương thân.
✨ Ở nhà đối đãi, kính trọng như khách. Chồng có nói lời, nghiêng tai lắng nghe.
✨ Chồng làm điều ác, khuyên can ân cần. Chớ học ngu phụ (vợ ngu), rước họa vào thân.
✨ Chồng ra khỏi nhà, phải nhớ lộ trình. Chiều chưa về đến, tìm kiếm ngóng trông.
✨ Giữ lửa hâm cơm, đợi người gõ cửa. Chớ học lãn phụ (vợ lười), trước lo an thân.
✨ Chồng nếu có bệnh, cả ngày lao tâm. Khắp nơi tìm thuốc, khắp chốn cầu Thần.
✨ Tìm trăm cách chữa, mong chồng sống lâu. Chớ học xuẩn phụ, không chút lo sầu.
✨ Chồng nếu nổi giận, không thể oán hờn. Lùi mình nhường bước, nhẫn nhịn nhỏ âm.
✨ Chớ học ngang ngược, tranh đấu ồn ào. Chỉ to áo mỏng, may vá khéo căn.
✨ Chớ để giá lạnh, tổn hại thân chồng. Thường sẵn cơm nước, đối đãi ân cần.
✨ Chớ để đói khát, ốm yếu khô gầy. Đồng cam cộng khổ, đồng phú đồng bần.
✨ Chết chôn cùng huyệt, sống đắp cùng chăn. Giống như đôi cá, hòa nhạc sắt cầm (đàn sắt đàn cầm).
✨ Nữ nhân như vậy, hiền đức vang danh.
🌿 Sau khi chép lại toàn bộ đoạn văn trên, lòng tôi tràn ngập cảm xúc! Trong gia đình có một người vợ tốt như vậy thì gia đình sao có thể không hòa thuận!
Người phụ nữ trong cuộc hôn nhân viên mãn đó đã được mô tả sống động trên trang giấy. Người phụ nữ thiện lương, dịu dàng, lại có thêm đức tính nhẫn nhịn, ti nhược như vậy thì vị “phu quân như trời” nào mà không cảm động, không yêu thương bảo vệ đây!
🌿 Thời xưa, mối quan hệ vợ chồng là khởi đầu của luân lý làm người, đạo nghĩa vợ chồng tuân theo đạo lý quy luật vận hành âm dương của trời đất, nam dương nữ âm, mỗi người mỗi khác, tính cách, trách nhiệm, phân công công việc cũng hoàn toàn khác nhau. Tục ngữ có câu: “Sinh con trai mạnh mẽ như sói, chỉ ngại nó nhút nhát nhu nhược. Sinh con gái gan nhỏ như chuột, chỉ ngại nó hung dữ như hổ”. Muốn có được mối quan hệ vợ chồng hài hòa tốt đẹp, người vợ phải như đại địa có đức hạnh sâu dày chứa đựng, nâng đỡ vạn vật. Làm sao để có đức dày thì trong sách cổ đã đặc biệt nhấn mạnh hai từ “kính thuận”. Học được chữ “kính” thì mới giữ tròn được bổn phận người phụ nữ, giữ gìn được quy củ. Khi có thể đặt mình ở vị trí thấp nhất, xem mọi người xung quanh đều cao hơn mình, đều cần phải tôn trọng, thì cái tâm cung kính, ti nhược này sẽ tự nhiên xuất hiện. Lại còn có thể “thuận”, gặp phải người hay việc ngang ngược thế nào cũng đều có thể buông bỏ cái tôi xuống, thuận với ý muốn của người khác, vậy sẽ tránh được những tai họa có thể xảy ra.
Trong mối quan hệ vợ chồng, đức tính “thuận” này của người vợ là một sự cung kính lâu bền, trong đó bao gồm biết dừng và biết đủ. Biết dừng lại đúng lúc thì dễ biết đủ, đối với chồng cũng nên hạn chế trách móc mà thêm phần tôn trọng, cung kính.
Vợ chồng là mối quan hệ thân cận, mật thiết nhất trong các mối quan hệ nhân luân, suốt đời sớm tối bên nhau, tuy nhiên lâu ngày lại dễ sinh tâm khinh mạn. Nếu người vợ buông lời suồng sã vô ý, trong tâm tùy ý phóng túng thì sẽ dễ nảy sinh ý nghĩ xúc phạm chồng.
🌿 Sách Nữ hiến viết: “Người chồng là chỗ dựa cả đời của người phụ nữ, chỉ cần đạt được tâm nguyện của chồng thì cả đời an tâm rồi”.
Tuy nhiên, người vợ muốn được chồng tôn trọng và tin tưởng từ tận đáy lòng, thì cần phải chuyên tâm nghiêm túc tu dưỡng nữ đức. Vui vẻ rộng lượng đối đãi với chồng, nhất cử nhất động đều thủ lễ giữ nghĩa, nội tâm thanh tịnh, nhà cửa ngăn nắp sạch sẽ, tai không nghe lời thị phi, mắt không nhìn cảnh bất chính. Dù ra ngoài hay ở nhà một mình đều diện y phục sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng. Lúc nào cũng nhắc nhở bản thân nghiêm túc tu tâm. Nếu làm được như vậy thì tự nhiên cương nhu hòa hợp, âm dương cân bằng, gia đình hưng thịnh.
🌸 Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../huu-duc-tu-nhien-huong-nu-duc...
🌸 Link radio Gangjingworld: www.ganjingworld.com/s/ZYaEwOm3GO
🌸 Link radio Youtube:https://www.youtube.com/watch?v=FCxhC...
🌸 Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
🌸 Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 month ago | [YT] | 83
View 4 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
Tác giả: Mai Tùng Hạc
[ChanhKien.org]
Vương Duy (700 – 761), tự là Ma Cật, là một đại thi nhân, họa sĩ và nhạc gia thời Thịnh Đường. Thơ ông miêu tả sự vật tinh tế, sinh động, đầy thần thái; ngôn từ thanh nhã, thoát tục, thể hiện trình độ nghệ thuật cao siêu, phong cách thơ của ông độc đáo, tự thành một trường phái riêng. Ông giỏi nhiều thể loại thơ, thành thạo trong việc sáng tác nhiều đề tài. Vương Duy cùng với Lý Hân, Cao Thích, Sầm Tham và Vương Xương Linh hợp lại với nhau được gọi là “Vương Lý Cao Tằng”, đại diện cho dòng thơ “biên tái” (thơ viết về vùng biên ải); ông cùng Mạnh Hạo Nhiên hợp lại được gọi là “Vương Mạnh”, đại diện cho dòng thơ điền viên (thơ về cuộc sống thôn quê). Những kiệt tác thơ biên tái của ông đa số là thất ngôn cổ thi, còn trong các bài thơ điền viên nổi bật đa phần là các bài ngũ ngôn luật thi. Về “thiền thi” (thơ mang tư tưởng thiền), ông lại càng xuất chúng, từ xưa đến nay không ai theo kịp, nên được tôn xưng là “Thi Phật”. Nhiều tuyệt phẩm lưu truyền rộng rãi của ông thuộc thể ngũ tuyệt: chỉ vỏn vẹn 20 chữ nhưng đã thể hiện trọn vẹn tâm tư, cảm xúc và triết lý mà trăm ngàn năm sau người ta vẫn đàm luận mãi không hết. Những bài thơ nổi tiếng của ông bao gồm: “Lộc Trai”, “Trúc Lý Quán”, “Sơn Trung”, “Tương Tư” và “Tạp Thi (kỳ 2)”… Vương Duy cũng là bậc thầy hội họa, ông giỏi vẽ các thể loại tranh phá mặc sơn thủy (tranh phong cảnh vẽ bằng lối phá mực) và tùng thạch (tranh vẽ tùng trên đá), ông cũng giỏi vẽ nhân vật, chân dung, và khóm trúc. Bút lực của ông hùng tráng, ông là người đi đầu trong việc sử dụng kỹ thuật thuân pháp (vẽ bằng các đường ngắn gãy) và tuyển vựng (tô màu loang) để tạo chiều sâu bố cục, đặc biệt là với cảnh bình viễn (cảnh xa bằng phẳng). Ông được hậu thế suy tôn là tổ sư của “Nam Tông” và người đứng đầu trong số các văn nhân vẽ tranh. Tác phẩm hội họa “Võng Xuyên Đồ”, vẽ những dãy núi trập trùng, cây cối um tùm, mây trôi nước chảy. Tô Thức thời Bắc Tống từng khen ông rằng: “Trong thơ có họa, trong họa có thơ”.
Vương Duy mồ côi cha từ sớm, mẹ ông là một cư sĩ Phật giáo rất thành kính, điều này có ảnh hưởng lớn đến việc sau này ông ăn chay và tu Phật cả đời. Những thăng trầm trong cuộc sống của ông lại càng góp phần khiến ông nhìn cuộc đời nhẹ nhàng và kiên định với lòng tin vào Phật: năm 21 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và được bổ nhiệm làm Đại Nhạc Thừa. Nhưng vì một nhóm đào hát biểu diễn điệu múa sư tử vàng phạm tội mà bị liên lụy, ông bị giáng chức làm Tư Thương Tham Quân ở Tế Châu. Đến thời loạn An Sử, ông bị An Lộc Sơn bắt giam và buộc phải nhận chức quan của quân phản loạn. Sau khi loạn lạc được dẹp yên, ông lại vì chuyện này mà bị bỏ tù. Một năm sau, Túc Tông xét thấy ông vô tội nên tha bổng, sau đó trong vài năm, ông liên tiếp được thăng chức đến chức Thượng Thư Hữu Thừa – một chức quan lớn. Có điều lúc này ông đã vào tuổi xế chiều, từ lâu đã xem nhẹ hồng trần rồi.
Trong suốt cuộc đời, ông đã có nhiều thời gian sống ẩn cử. Trước năm 18 tuổi, ông đã từng ẩn cư. Năm 729, ông ẩn cư tại vùng Kỳ Thượng, sau đó chuyển đến núi Tung Sơn, lần này là do từ quan về ở ẩn, cho đến năm 734 mới được triều đình bổ nhiệm làm Hữu Thập Di. Từ năm 741 đến 745, ông lại ẩn cư ở núi Chung Nam. Đến năm 748, ông mua lại biệt viện Võng Xuyên ở Lam Điền của Tống Chi Vấn, từ đó sống cuộc đời nửa làm quan nửa ẩn sĩ, cho đến năm 756 thì bị An Lộc Sơn bắt giữ. [1] Căn cứ vào thơ của ông thì thấy, vào khoảng 40 tuổi, ông đã có tâm tu Đạo. [2] Về cuối đời, ông chủ yếu sống trong thành, trong nhà thường nuôi dưỡng mười mấy vị tăng nhân để cùng nhau giao lưu thể ngộ tu Phật; sau mỗi buổi chầu về, ông lại đốt hương ngồi thiền một mình, chuyên tâm tu tập thiền định.
Trong lúc ẩn cư, ông thường leo núi, bái chùa, cầu Đạo vấn thiền, lòng đầy khát vọng ẩn cư nơi núi rừng thanh tĩnh. Có lúc ông men theo những con đường nhỏ hiểm trở, quanh co uốn lượn mà leo lên đỉnh núi, những ngọn núi kỳ lạ chỉ thẳng lên trời, trên đầu là những tảng đá lớn lởm chởm như muốn rơi xuống bất cứ lúc nào; thác nước và suối reo vang như sấm, tung bọt trắng xóa; cùng các thiền sư trong núi đi đường, có khi bắt gặp bầy khỉ đang nhặt hạt dẻ, lúc trở về lại tình cờ gặp đàn hạc tiên đang làm tổ trong rừng tùng; cây cầu nhỏ đi qua chỉ là thân cây đổ được gác tạm qua suối, hàng rào nơi ở chỉ là những sợi dây leo trên cây lớn buộc tạm lại thành. Khi về tới nơi, khép cửa đá lại, ông an tâm đả tọa, đến khi mở cửa đá một lần nữa thì cỏ ngoài sân đã mọc cao rậm rạp rồi! [3] Có lúc ông leo lên một ngọn núi thật cao, sau rừng trúc sâu là một hang đá dùng làm nơi cư trú, đêm đến khi mọi vật tĩnh lặng, ông nghe được tiếng suối chảy róc rách từ xa vọng lại; từ dưới nhìn lên, chỗ ấy đã là nơi cao vút giữa mây trời, vậy mà ông lại đang nằm nghỉ yên bình ở đây, cảm giác ấy khiến ông thấy lưu trú tạm thời thật chẳng đủ, mà chỉ muốn được ở lại đây mãi mãi. [4] Có lần ông du ngoạn đến một số ngôi chùa trên núi, nơi đó mãnh hổ sống hòa thuận với người, những con khỉ còn có thể học theo người tham thiền đả tọa, khoảnh khắc ấy khiến người ta cảm nhận được Phật quốc hiện ra ngay trước mắt, còn thế gian con người thì trở nên xa xăm mờ ảo, cũng khiến ông tự thấy hổ thẹn với đời sống quan trường mà mong mỏi được sống suốt đời ở nơi đây để tu Phật. [5]
Ngoài những lý do đã kể trên khiến Vương Duy hướng về cửa thiền, thì nỗi khổ và sự giày vò của sinh lão bệnh tử trong đời người cũng là một loại lực lượng thúc đẩy và khai mở tâm linh: có lúc ông ngồi lặng lẽ suy ngẫm giữa đêm khuya, nghĩ đến tóc mai hai bên ngày một bạc trắng, chẳng thể nào đen trở lại, dù có vạn lượng vàng cũng đành bất lực, không khỏi cảm thấy nỗi bi thương dâng trào, và cuối cùng ngộ ra rằng chỉ có học Đạo, thoát khỏi luân hồi mới có hy vọng. [6] Lại có lúc ông hồi tưởng, cảm giác bản thân mới hôm qua còn là chàng thanh niên mặt mày hồng hào rạng rỡ, vậy mà hiện nay răng đã hỏng, sắc diện tàn phai, tóc bạc đã sớm phủ kín đầu; không chỉ vậy, bao nhiêu chuyện thương tâm trong đời cũng cùng lúc trỗi dậy trong tâm. Trước sự giày vò cả thân lẫn tâm như vậy, ngoài việc chăm chỉ tu hành nơi cửa Phật, còn biết đi đâu để giải thoát đây! [7]
Khi đã có đạo tâm kiên định và tu vi chuyên cần, quay đầu nhìn lại cõi đời sẽ có một thế giới quan hoàn toàn khác: bệnh tật trong đời chẳng qua cũng từ chấp trước vào yêu và hận mà sinh; cảm thấy mình nghèo khổ rồi sinh lòng oán trách, chẳng qua cũng bởi có tâm tham dục; con người trong mê lại thành ra lưu luyến cõi trần gian đầy bệnh tật và nghèo khổ này, đối với sinh tử qua lại, lục đạo luân hồi lại không biết chán, lại không hề hay biết rằng sở dĩ con người đến thế gian này chính là vì đã khởi phàm tâm. [8] Những vọng tưởng điên đảo này của con người giống như những con rồng độc quấn chặt bản thân, không thể tự giải thoát, chỉ có tu tập thiền định mới có thể chế ngự những vọng niệm này. [9] Người tu Đạo sau khi nhìn thấu những lý này rồi tự nhiên sẽ an vui với cuộc sống tu Đạo nghèo khó. [10] Hơn nữa, thuận theo việc tâm tính đề cao, cái nhìn về khổ và vui cũng khác với người thường, thường cảm thấy vui mừng khi có sự giác ngộ trong tĩnh lặng, và từ đó dần dần tạo nên khoảng cách với người thường. [11]
Trong thơ của mình, Vương Duy còn nhắc đến một số sự tình cụ thể trong tu luyện: ông thích đọc những truyện ký về các cao tăng đắc Đạo, đôi khi nghiên cứu cả phương pháp tu luyện tịch cốc; ông khắc đầu gậy thành hình chim cu gáy, lấy mai rùa làm vật kê dưới chân giường; khi không có việc gì làm thì đốt hương dưới cửa sổ phía Bắc và ngồi đả tọa. [12] Khi ẩn cư trong núi, ông cùng một nhóm người tụng thiền, cảm nhận được niềm vui khác biệt so với khi ngồi thiền một mình. [13] Trong thời gian ẩn tu tại núi Tung Sơn, ông còn từng có trải nghiệm bế quan tu luyện. [14]
Làm điều ác giống như mài dao trên đá, tuy nhìn không thấy hao tổn rõ rệt, nhưng mỗi ngày tiêu giảm một chút, dần dần bị mòn đi; tu thiện thì như cỏ xuân trong vườn, tuy chẳng thấy nó lớn lên, nhưng mỗi ngày một cao. Không ai hay biết, thuận theo năm tháng trôi qua, Vương Duy đã tu luyện đến cảnh giới cực cao “mắt nhìn mà không nhiễm, lòng rỗng mà không mê”. [15] Khi tu được đến trình độ cao, tự nhiên sẽ xuất hiện một số công năng, nhưng bản thân ông lại không xem trọng điều đó. Đối với thành tựu rất cao của mình trong thơ ca và hội họa, ông chỉ khiêm nhường giải thích rằng: “Ta từ nhiều đời đã là người tinh thông thơ văn, mà đời trước là một họa sĩ. Vì những thói quen xưa kia chưa dứt hết, nên đời này lại bị người đời phát hiện ra thôi”. [16] Tu luyện mười mấy hai mươi năm mà có được công năng như túc mệnh thông cũng chẳng có gì lạ; lời giải thích của ông không chỉ hợp tình hợp lý mà còn rất phù hợp với các quy luật nghiên cứu về luân hồi trong giới học thuật phương Tây hiện đại...
Dịch từ: www.zhengjian.org/node/19842
Link bài viết: chanhkien.org/2025/06/cau-chuyen-tu-luyen-cua-cac-…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
1 month ago | [YT] | 50
View 0 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
Tác giả: Tiểu Liên
[ChanhKien.org] Câu chuyện này xảy ra ở vùng Triết Giang vào thời nhà Nguyên. Nơi đây từng có lần xảy ra một trận lũ lụt lớn, nước lũ tuy không quá lớn nhưng cũng đã nhấn chìm rất nhiều đồng ruộng và làng mạc. Cũng may trận lụt xảy ra vào ban ngày, rất nhiều người biết được thông tin nên phần lớn người dân đều đã di tản một cách an toàn.
Chỉ còn sót lại một gia đình có hai mẹ con. Người mẹ bị đau chân, cô con gái mới 15-16 tuổi. Nhà cô nằm ở vùng trũng, nên lũ lụt trong nháy mắt đã vào đến cửa. Mẹ cô nài nỉ: “Con mau chạy đi, đừng lo cho mẹ!” Cô con gái nhất định không chịu, muốn cõng mẹ ra ngoài, nhưng thân con gái như cô sao có thể cõng nổi mẹ già? Thuận theo nước lũ không ngừng dâng cao, ngôi nhà cũng bắt đầu nghiêng sang một bên. Mẹ cô dốc hết sức lực đẩy cô con gái ra ngoài lên chỗ cao hơn một chút, trong nháy mắt căn nhà đổ sụp xuống, người mẹ đã vùi thân trong dòng nước lũ. Cô gái thấy vậy liền ngất đi.
Rất lâu sau cô tỉnh lại, phát hiện mình đang nằm trên một con thuyền nhỏ. Vợ của thuyền phu vừa thấy cô tỉnh lại liền bưng nước nóng đến cho cô, giúp cô sưởi ấm người. Khi cô nhớ lại được mọi chuyện, trước tiên cô cảm tạ ơn cứu mạng của vợ chồng thuyền phu. Sau đó, cô bắt đầu òa khóc. Bởi cô từ nhỏ đã nương tựa vào mẹ mà sống, sự ra đi của mẹ là một cú sốc lớn đối với cô. Người thuyền phu an ủi: “Con à, trong trận lũ này, không chỉ có mình mẹ con bị nước lũ cuốn đi mà còn có nhiều người khác cũng cùng cảnh ngộ như vậy, đúng là thiên tai mà!” Cô gái đau xót nghĩ: “Ông Trời chẳng phải có đức hiếu sinh sao, cớ sao lại không ngăn cản thiên tai này? Cớ sao lại bắt người ta nếm trải nỗi thống khổ của sinh ly tử biệt chứ?” Mấy hôm sau lại xảy ra lũ lụt, vì họ ở trên thuyền nên cũng không việc gì. Thuyền phu là người rất trượng nghĩa, ông dẫn theo vợ và cô gái nhỏ chèo thuyền khắp nơi để cứu người. Mấy lần họ suýt bị những người rơi xuống nước kéo xuống. Trong lần cứu người cuối cùng, hai vợ chồng thuyền phu đều bị nước lũ cướp đi sinh mệnh. Trên thuyền chỉ còn lại một mình cô gái. Cô không đủ sức để kéo cái mái chèo nặng nề, chèo được một lát thì mệt rã rời. Cô đành tuyệt vọng nằm trong lòng thuyền, mặc cho chiếc thuyền cứ xuôi dòng mà lênh đênh.
Trải qua năm ngày năm đêm, chiếc thuyền dường như đã tấp được vào bờ, nó mắc kẹt ở nơi đó. Cô gái chỉ còn thở thoi thóp. Lúc đó vừa đúng giờ ngọ, từ trên bờ vang đến âm thanh của một bà cụ gõ cái bình bát. Bà vừa gõ bình bát vừa lẩm nhẩm rằng: “Ta vốn ngoài biển từ trời đến, lưu lạc bờ biển một vùng này, cầm bát hóa duyên thật tự tại, như ngọc như hoa đến khi nào? Như ngọc như hoa đến khi nào?” Cô gái nhỏ nghe xong, không biết sức lực từ đâu đến mà hô lên rằng: “Hoa sen như ngọc là thứ cháu thích nhất!” Bà cụ nghe thấy mừng rỡ chạy một mạch đến bên chiếc thuyền, thấy cô gái chỉ còn hơi thở thoi thóp. Bà ôm cô vào lòng, thật hiền từ giống như bà nội với cháu gái vậy.
Về sau cô cùng bà cụ đi xin ăn. Mười năm sau, vào một đêm mưa to gió lớn, họ nghỉ ngơi trong một ngôi miếu hoang, bà cụ hỏi cô: “Tại sao con lại thích hoa sen và thích ngọc vậy?” Cô cười nói rằng: “Con cảm thấy làm người thì nên cao quý như là hoa sen và thuần tịnh, cứng cỏi như ngọc vậy.”
Bà cụ nghe xong vui mừng nói: “Trên thế gian này, những người có thể đồng thời thích hai thứ này thật sự không nhiều! Con xem nơi này ngay cạnh biển cả, người ta thường xuyên đi biển, nhưng cũng thường có người chôn thân nơi đáy biển, ta thật sự không nhẫn tâm. Vậy nên ta thường đi xin ăn trên bờ biển, phàm là những người cho ta cơm ăn, chỉ cần họ không làm những chuyện giết người hại mệnh, trộm cướp, ta sẽ gắng hết sức giúp họ vượt qua kiếp nạn trong sóng gió.”
Cô gái nghe xong cảm thấy lời của bà cụ có ẩn ý sâu xa, liền hỏi: “Lão nhân gia, lẽ nào người chính là Bồ tát Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn chuyển thế hay sao?” Bà cụ từ bi nói: “Ta là ai vốn không quan trọng, quan trọng là con hãy hiểu rõ một điều: nhất định phải cứu độ chúng sinh thoát khỏi nguy nan. Nhưng có một điều kiện tiên quyết: nếu như con người đều không tin vào Thần nữa, vậy thì cứu họ chính là làm trái với lẽ Trời.” Cô gái nghe xong lập tức hiểu rõ. Cô quỳ xuống dập đầu, mong lão nhân gia có thể đem năng lực cứu khổ cứu nạn truyền cho cô, tương lai cô cũng muốn ở nơi này cứu độ chúng sinh khỏi nguy nan! Lão nhân gia thấy cô một lòng thành tâm liền thu cô làm đệ tử. Sau đó bà nói với cô rằng: “Thật ra khi con ở quê nhà vùng Triết Giang, ta đã dõi theo con rồi, bởi căn cơ của con rất tốt, là người hiếu thuận, trượng nghĩa. Lúc đó, con tuy còn nhỏ tuổi, nhưng luôn hết lòng hết sức giúp đỡ người khác. Mẹ của con tuy chôn thân trong nước lũ, nhưng nhờ con tu hành, mẹ của con cũng sẽ có đại phúc báo chờ đợi bà. Vợ chồng thuyền phu cũng vậy. Thật ra, cớ sao cuộc đời con lại phải trải qua những khổ nạn này, chính là để con nhìn thấu những hư huyễn và vô thường của đời người, đề con không có lòng tham luyến cõi trần. Suốt 10 năm nay, chúng ta cùng nhau đi xin ăn, gặp đủ các dạng các loại người, vô luận người khác đối xử với chúng ta thế nào, ta đều không xem trọng, phàm là những người cho ta cơm ăn, ta đều sẽ tận lực giải thoát cho họ trong nguy nan. Còn những người đối xử rất ác với chúng ta, ta cũng cấp thêm cơ hội cho họ. Những người nào thật sự tâm ma nhiễu loạn thì chẳng còn cách nào, đành phó mặc họ thôi.” Nghe xong những lời khải thị này, cô càng thêm kiên định tín tâm theo sư phụ tu hành.
Thấm thoắt lại 20 năm nữa trôi qua. Cô thiếu nữ năm xưa giờ đã là một phụ nữ trung niên khoảng hơn 50 tuổi. Một ngày kia, bà cụ nói với cô rằng: “Ta có việc cần phải đi rồi, những việc còn lại, tự con hãy tùy tình huống mà làm. Phải rồi, ta chọn con làm đồ đệ duy nhất của ta chính là hy vọng con có thể làm tốt những việc vốn thuộc về ta.” “Sư phụ, những việc của người là gì vậy?” Cô hiếu kỳ hỏi. Bà cụ bảo cô xoay người đi, đến khi cô quay đầu nhìn lại thì bỗng ngẩn người ra: không thấy bà cụ vốn bị mù hai mắt đâu nữa, chỉ thấy một vị Bồ tát uy nghiêm vô tỷ đang đứng trước mặt cô. Vẻ từ bi, thù thắng đó dẫu dùng bất cứ ngôn ngữ nào của nhân gian cũng không có cách nào diễn tả được. Cô cúi xuống bái lạy. Bồ tát chỉ tay một cái, thấy biển cả mênh mông bỗng nổi trận cuồng phong tứ bề, vô số con thuyền nhỏ đáng thương đang lênh đênh ở đó, Bồ tát chìa bàn tay ngọc còn lại thu rất nhiều thuyền nhỏ vào trong tay, có một số thuyền nhỏ thì lật chìm xuống đại dương mênh mông. Nhìn kỹ những con thuyền nhỏ được Bồ tát giữ trong bàn tay ngọc kia, trên mạn thuyền đều có một chữ “phúc” hoặc “đức”. Còn trên mạn những con thuyền bị lật chìm xuống đại dương bao la kia hầu hết đều có một vết đen hoặc vòng tròn màu đen rất lớn.
Sau khi triển hiện cho cô thấy những cảnh này, thân thể Bồ tát bắt đầu phiêu đãng bay lên. Cô quỳ xuống đất nghênh tiễn sư phụ. Khi thân thể Bồ tát bay đến giữa không trung, Bồ tát nói:
Thương xót chúng sinh đến thế gian
Thiện ác một niệm thấu trời xanh
Con cầm bát ta kết duyên tiếp
Từ bi cam lộ độ nguy nan!
Cô nghe những lời khai thị này, trong lòng đã hiểu rõ hơn một nửa, trong những năm tháng về sau, dấu chân của cô đã đi khắp các vùng ven biển, không ngừng dùng phương thức hóa duyên để kết duyên với chúng sinh, giáo hóa chúng sinh. Trong thời gian đó cô cũng không ngừng thăng hoa tâm tính của bản thân, cuối cùng khi ở tuổi 99, cô đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình mà viên mãn về Trời.
Ở thiên giới, cô gặp lại mẹ ruột của cô và hai vợ chồng thuyền phu. Để cảm tạ ơn cứu mạng nơi cõi người của mẹ cô và vợ chồng thuyền phu, cô đã phong cho họ làm Thiên Thần hộ Pháp.
Đây chính là:
Như hoa như ngọc sinh cao quý
Trần thế vô thường chẳng dài lâu
Cứu thế tu hành khổ ma luyện
Ngày kia viên mãn, tráng lệ thay!
Dịch từ: www.zhengjian.org/2012/08/13/112417.掸去封尘:似玉如花.html
Link bài viết: chanhkien.org/2015/09/phui-sach-phong-tran-nhu-hoa…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
2 months ago | [YT] | 131
View 3 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
Đằng sau bức “Lan Đình tập tự”
Tác giả: Thanh Phong
[ChanhKien.org]
Bản sao các bài thơ của “Lan Đình tập tự”. (Ảnh: Shenyun.com)
Năm 353 (năm Vĩnh Hòa thứ 9 triều vua Tấn Mục Đế), vào ngày mùng 03 tháng 03 âm lịch Vương Hi Chi cùng các nhân sĩ nổi tiếng như Tạ An, Tôn Xước… tổng cộng có 41 người cùng tổ chức hội thơ ở Lan Đình tại núi Hội Kê thuộc huyện Sơn Âm (nay thuộc Triệu Hưng, Chiết Giang). Những người dự hội đã sáng tác thơ phú nói lên hoài bão của mình và chép thành một tập, sau đó mọi người đề nghị người mở hội – nhân sĩ Vương Hi Chi đức cao vọng trọng viết lời mở đầu ghi lại buổi nhã hội này, chính là bức “Lan Đình tập tự”.
Bức “Lan Đình tập tự” có một vị trí cực cao trong lịch sử văn học, và trong lĩnh vực thư pháp nó cũng đạt đến vị trí đỉnh cao mà chưa tác phẩm nào có thể vượt qua.
Chúng ta đều biết rằng Vương Hi Chi là một nhà thư pháp vĩ đại, kỳ thực ông còn là một đạo sỹ. Trong quyển “Tấn Thư” Vương Hi Chi viết rằng: “Thế sự Trương thị Ngũ đấu mễ đạo, hựu tinh thông thư đạo”, nghĩa là chuyện thế sự của người họ Trương là đạo năm đấu gạo, lại tinh thông thư pháp. Nhiều thế hệ trong đại gia tộc Vương Hi Chi đều là những tín đồ Đạo giáo thành tín, vị tổ mà họ tín phụng chính là ông tổ Trương Đạo Lăng của phái Thiên Sư Đạo. Trong bộ sách “Tiềm phu luận” của Vương Phù đời Hán có đoạn ghi chép: “Nhân thị Vương thị, kỳ hậu tử tôn, thế hỉ dưỡng tính, thần tiên chi thuật” (Thế là từ đó con cháu họ Vương đều thích tu tâm dưỡng tính, học phép thuật của Thần tiên). Vương Hi Chi thường “cùng đạo sỹ Hứa Mại tu luyện, uống đan dược, vượt ngàn dặm hái thuốc, đi khắp các quận phía Đông, vượt khắp danh sơn, băng qua biển thẳm”. Lối thư pháp của ông vì thế mà cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Đạo giáo. Những khi nhàn rỗi Vương Hi Chi hay sao chép kinh sách Đạo giáo, trong đó nổi tiếng nhất là bản chép tay “Hoàng Đình Kinh”, do vậy giải thích từ góc độ tu luyện thì tuyệt phẩm “Lan Đình tập tự” cũng là tự nhiên thuận bút thành văn, nếu từ tầng của người thường thì thực sự không thể giải thích được.
Sau đây chúng ta hãy cùng phân tích nội dung bức “Lan Đình tập tự”:
Vĩnh Hòa cửu niên, tuế tại Quý Sửu, mộ xuân chi sơ, hội vu Cối Kê Sơn Âm chi Lan Đình, Tu Hễ sự dã. Quần hiền tất chí, thiếu trưởng hàm tập. Thử địa hữu sùng sơn tuấn lĩnh, mậu lâm tu trúc; hựu hữu thanh lưu kích thoan, ánh đới tả hữu. Dẫn dĩ vi lưu trường khúc thuỷ, liệt tọa kỳ thứ; tuy vô ty trúc quản huyền chi thịnh, nhất trường nhất vịnh, diệc túc dĩ sướng tự u tình. Thị nhật dã, thiên lãng khí thanh, huệ phong hòa sướng; ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh; sở dĩ du mục sính hoài, túc dĩ cực thị thính chi ngu, tín khả lạc dã.
Tạm dịch: Năm Kỷ Sửu, Vĩnh Hòa thứ chín, sắp vào tiết xuân; cùng họp nhau nơi Lan Đình, phía Bắc núi Cối Kê, chuẩn bị lễ Tu Hễ [1]. Những hiền sĩ, già có trẻ có, đều đến tụ họp. Nơi ấy có núi cao chót vót, rừng xanh rậm rạp, trúc dài tươi tốt, thêm suối trong cuộn chảy, lấp loáng bóng đôi bờ. Theo dòng nước uốn lượn có thể thả chén rượu đặt lời thơ, chia thứ bậc cùng ngồi. Tuy không có tiếng đàn sáo rộn rã nhưng một chén rượu, một lời ngâm cũng đủ để giãi bày tâm tình sâu kín. Hôm ấy trời cao khí trong, gió nhẹ lâng lâng, ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy.
Ở hai đoạn đầu này lời văn được viết trong sáng, dễ hiểu. Rõ ràng là Lan Đình và khung cảnh xung quanh trông rất đẹp, đến một kẻ phàm phu cũng phải thấy lâng lâng tức cảnh sinh tình. Khi luận giải “Lan Đình tập tự” người ta cũng chỉ có thể hiểu đến thế mà thôi. Tuy nhiên có một điểm mà người bình thường không nhận thức ra được: Vương Hi Chi và các danh sĩ đều là những người tu Đạo, buổi họp mặt này kỳ thực chính là buổi giao lưu chia sẻ tu luyện; hơn nữa họ đều có căn cơ rất tốt, trong đó không ít người có thiên mục khai mở đến một tầng nhất định, có thể nhìn thấy, tiếp xúc được với nhiều thứ mà người thường trong cùng một hoàn cảnh không thể nhìn thấy, chạm đến được hay tiếp thụ được. Thế nên họ mới đạt tới cảnh giới “ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy”.
Đoạn sau: Phù nhân chi tương dữ, phủ ngưỡng nhất thế, hoặc thủ chư hoài bão, ngộ ngôn nhất thất chi nội; hoặc nhân ký sở thác, phóng lãng hình hài chi ngoại. Tuy thú xá vạn thù, tĩnh táo bất đồng; đương kỳ hân vu sở ngộ, tạm đắc vu kỷ, khoái nhiên tự túc, bất tri lão chi tương chí. Cập kỳ sở chi ký quyện, tình tuỳ sự thiên, cảm khái hệ chi hĩ. Hướng chi sở hân, phủ ngưỡng chi gian, dĩ vi trần tích, do bất năng bất dĩ chi hứng hoài; huống tu đoản tùy hoá, chung kỳ ư tận. Cổ nhân vân: “Tử sinh diệc đại hĩ.” Khởi bất thống tai!
Tạm dịch: Phàm người cùng người tương hội chỉ là trong thoáng chốc của cuộc đời; có người khi giao tiếp là giữ kín hoài bão trong lòng không nói, có người vì sự ký thác mà gửi hết tâm tư vào hình hài. Tuy muôn vàn sở thích khác nhau, tĩnh động cũng khác, nhưng sự vui vẻ khi gặp nhau, dẫu trong chốc lát, (lại) chẳng biết tuổi già đang đến.
Rồi khi tự thân mòn mỏi, tâm tình theo sự vật đổi thay, lòng đầy cảm khái. Niềm vui trong khoảnh khắc giờ đây bỗng biến thành vết bụi mờ, vậy nên lòng không thể không hoài cảm. Huống chi cuộc đời dài ngắn (thường) biến hóa, rồi cũng đến lúc tận chung. Người xưa nói: “Tử sinh đều là việc lớn”, há chẳng đau lòng sao! (Có bản viết: từng chưa hay tuổi già đang đến, có bản viết: không hay tuổi già đang đến)
Nếu xét từ góc độ tu luyện thì đoạn văn trên rất dễ lý giải, nói thẳng ra những thứ như danh lợi tình mà con người chấp trước đều không bền lâu, không thể tồn tại vĩnh viễn, một khi mất đi sẽ khiến người ta phải thở dài cảm thán.
Và đoạn cuối: Mỗi lãm tích nhân hứng cảm chi do, nhược hợp nhất khế; vị thường bất lâm văn ta điệu, bất năng dụ chi ư hoài. Cố tri nhất tử sinh vi hư đản, tề Bành thương vi vọng tác. Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích, bi phù!
Cố liệt tự thì nhân, lục kỳ sở thuật, tuy thế thù sự dị, sở dĩ hứng hoài, kỳ trí nhất dã. Hậu chi lãm giả, diệc tương hữu cảm ư tư văn.
Tạm dịch: Mỗi khi xét đến cảm hứng trong văn chương của người xưa rồi cùng hợp lại, thì lòng ta lại vì lời văn mà trỗi mối u hoài không giải rõ được vì sao. Cứ khăng khăng cho rằng sống chết đều là chuyện hư dối, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng. Đời sau nhìn lại nay cũng như nay nhìn lại xưa, cả đều buồn thay!
Vậy đây theo thứ tự các thi nhân mà chép lại; tuy tuổi tác chẳng đồng, sự việc có khác nhưng lòng hoài cảm thì như nhất. Người sau xem lại, hẳn vì lời thơ mà gợi niềm thương cảm hơn chăng.
Điểm mấu chốt của đoạn này là câu “cứ khăng khăng cho sống chết đều là chuyện hoang đường, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng”. Trong sách “Tề vật luận” Trang Tử đã giải thích một cách đơn giản về quan điểm trên rằng: mọi vật đang sống là đang chết, đang chết là đang sống (phương sinh phương tử, phương tử phương sinh). Con người chết rồi nhưng nguyên thần bất diệt, nguyên thần sẽ tiến nhập vào luân hồi và một sinh mệnh mới sẽ ra đời. Đứng từ góc độ tu luyện thì rất dễ hiểu, bản thân Vương Hi Chi là người tu Đạo và đã đọc thành thục sách của Trang Tử, không thể nào không hiểu được ý tứ của tiền nhân, vì sao ông lại nói như vậy? Kỳ thực ý mà ông muốn nói chính là chỉ có tu luyện chân chính mới có thể thoát khỏi luân hồi và có được vẻ đẹp vĩnh hằng của sinh mệnh; nhưng thực tế con đường tu luyện vốn rất gian nan, một người bình thường thân đầy chấp trước, không thể buông bỏ được tí gì mà muốn đạt tới cảnh giới thoát tục là không thể nào, chỉ là “hư dối”, “ngông cuồng”.
Thế nhân luôn cảm thán rằng đời người là vô thường và cố gắng đi tìm con đường vĩnh hằng cho sinh mệnh nhưng họ lại không buông bỏ được trùng trùng chấp trước của người thường, từ xưa đến nay đều như vậy. Qua bài “Lan Đình tập tự” Vương Hi Chi đã sử dụng thủ pháp văn chương để bày tỏ quan điểm của mình.
Điểm khác biệt rất lớn giữa “Lan Đình tập tự” và các tác phẩm nổi tiếng khác được lưu truyền lại là thư pháp của Vương Hi Chi vô cùng đẹp, đẹp đến mức khiến người xem phải nín thở. Cái đẹp nằm ở kết cấu bài văn, đẹp ở kết cấu con chữ, đẹp ở chỗ bút pháp, tất cả hòa quyện lại với nhau và triển hiện đầy đủ trên bức thư pháp này, người đời xưa nay xưng tụng là “Thiên hạ đệ nhất hành thư”. Thế nhân thường dùng những câu sau trong bài “Lạc Thần phú” của Tào Thực để ca tụng vẻ đẹp của thư pháp Vương Hi Chi:...(còn tiếp)
Link bài viết: chanhkien.org/2024/11/dang-sau-buc-lan-dinh-tap-tu…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
2 months ago | [YT] | 105
View 0 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
🔍Kỳ quan ngàn năm Huyền Không Tự 🔍
[ChanhKien.org]
✨ Tiên thơ Lý Bạch cả đời thích Đạo, dấu chân in khắp danh sơn đại xuyên, đã thăm viếng qua rất nhiều chùa chiền đạo quán, đến đâu cũng đều lưu lại rất nhiều tác phẩm lay động lòng người, trong đó có một bài thơ ý cảnh (1) cao xa, kỳ ảo xuất thần:
Dạ túc sơn tự
Nguy lâu cao bách xích
Thủ khả trích tinh thần
Bất cảm cao thanh ngữ
Khủng kinh thiên thượng nhân
Dịch nghĩa
Lầu cao vòi vọi trăm thước
Tay không có thể hái được sao
Không dám nói lớn tiếng
Sợ làm kinh động người trên trời
Thưởng thơ rồi tâm tư suy tưởng, ngôi chùa chênh vênh vắt vẻo trên núi, tay bắt được sao này ở đâu vậy?
✨ Kỳ quan ngàn năm Huyền Không Tự
Huyền Không Tự (Chùa Huyền Không – ngôi chùa treo trên không trung) hay còn gọi là Huyền Không Các (lầu gác huyền bí trên không), được mệnh danh là “Ngôi chùa trên trời”, nằm ở núi Hằng Sơn, thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây, nổi tiếng với địa thế cao hiểm trở ngay trên vực thẳm. Ngôi chùa được xây dựng vào cuối triều đại Bắc Ngụy (năm 491), cách đây hơn 1.500 năm và là một ngôi chùa độc đáo đặc biệt kết hợp Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
Thiết kế của Huyền Không Tự khéo léo kỳ lạ. Xa trông, là những đình đài lầu các lung linh tinh xảo khảm trên vách núi Thúy Bình bay bổng khí tiên. Gần nhìn, là nguy lâu với những điêu khắc gỗ cổ xưa điêu luyện sắc sảo treo lơ lửng trên không trung trăm thước. Kiến trúc tài tình như vậy được thế giới tôn xưng là kỳ quan.
Từ cổ chí kim, không biết có bao nhiêu du khách ngưỡng mộ danh tiếng đến đây thưởng ngoạn đã bị thiết kế thiên tài xảo diệu này làm cho kinh ngạc. Thi tiên Lý Bạch du lãm nơi này đã lưu lại trên vách đá hai chữ lớn “tráng quan”.
Huyền Không Tự sừng sững trên vách đá ngàn năm bất hoại quả là kỳ tích, một công trình kiến trúc toàn bằng gỗ như thế làm sao có thể chịu được mưa sa gió táp? Ai là người có trí huệ lớn như vậy?
✨ Tương truyền, vào thời Bắc Ngụy, có một vị thiên sư đạo trưởng trước khi quy tiên đã lưu lại di huấn: “Cần xây dựng một ngôi chùa trên không trung, để “thượng duyên tiêu khách, hạ tuyệt hiêu phù” (tạm dịch: trên rước khách trời, dưới rời ồn náo)”. Sau đó, các đệ tử của thiên sư tuân theo ý nguyện của thầy, trù tính kinh phí, lựa chọn địa điểm, thiết kế dựng thành.
Đặc điểm của Huyền Không Tự là cheo leo và hiểm trở, bước đi trên đó rung động đung đưa, giống như một tòa nhà nguy hiểm sắp sập, kỳ thực lại vững chắc như bàn thạch. Huyền Không Tự kinh qua vô số lần xuân hạ thu đông, nhưng như một cây thường xanh vẫn ngàn năm sừng sững đứng, được thế giới xưng tụng là một trong thập đại kỳ tích.
Phía ngoài của chùa được chống đỡ bởi một số cột gỗ thanh mảnh, tay chạm vào có cảm giác đong đưa. Chúng có tác dụng trợ lực, có thể giúp giảm áp lực của toàn tự viện, cũng tăng dũng khí cho những kẻ nhát gan, có ta đang chống đỡ đây rồi, đừng sợ nhé. Dân gian cũng truyền miệng cách nói rằng “Huyền Không Tự, cao nửa trời, ba cái đuôi ngựa treo trên không”. Bề mặt của các cột gỗ đã được phủ lên một lớp dầu cây du đồng để chống mối mọt và mục rỗng.
Toàn bộ trọng tâm cấu trúc bên trong của ngôi chùa chống đỡ vào đá núi, đá được đục thành dạng hình thang vuông, rồi cắm rường cột gỗ vào, lợi dụng nguyên lý lực học dùng một nửa rường cột đưa ra ngoài làm nền của ngôi chùa. Toàn bộ kiến trúc cao 50 mét so với mặt đất, có bố cục “nhất viện lưỡng lâu” (một tòa viện và hai tòa lầu) (2), với tổng chiều dài khoảng 32 mét, lầu các điện thờ có 40 gian, lầu điện giao thoa qua lại, cầu treo trên không làm lối đi, cao thấp đan xen.
Huyền Không Tự là tác phẩm xuất thần, thể hiện trí tuệ cổ xưa của nhân loại. Nhìn lại nhiều danh thắng cổ tích vùng đất Hoa Hạ, đều thấy điểm chung là hầu như tất cả chúng đều được những người tu hành xây dựng nên. Chẳng hạn như: Chùa Bạch Mã – ngôi chùa đầu tiên trên thế giới, Lạc Sơn Đại Phật, Tử Cấm Thành Bắc Kinh, v.v.
✨ Tại sao hành giả lại có trí tuệ lớn như vậy? Có phải chăng đang truyền tải Thiên ý gì?
Văn hóa truyền thống cổ xưa là do Thần truyền lại cho con người, trong khi tai quen mắt biết, con người biết giữ gìn đạo đức, tuân thủ lễ nghĩa. Sự truyền thừa của Phật giáo và Đạo giáo cũng là cấp cho con người nấc thang lên trời, con người thông qua chịu khổ tu xuất khỏi thế giới con người. Trong số đó có nhiều người tu luyện, bao gồm cả hòa thượng, đạo sĩ, nhờ tu luyện tinh tấn đã đạt đến cảnh giới xuất thần thông. Họ có thể câu thông với các vị Thần, nhận được sự khai thị của Thần.
Thiên sư đạo trưởng Khấu Khiêm của triều đại Bắc Ngụy là một trong số đó. Huyền Không Tự là kiệt tác của Thần, là người tu luyện thực hiện ý chỉ của Thần vậy.
✨ Kể cũng lạ, tại sao Huyền Không Tự lại được xây dựng trên vách núi dựng đứng?
Nếu nói rằng “Thượng duyên tiêu khách, hạ tuyệt hiêu phù”, thì xây dựng trên vách đá có thể xem là một vị trí tuyệt vời. Không chỉ rời xa huyên náo, mà còn được ngắm mưa sao, hái sao và bầu bạn thiên nhân. Con đường tu hành cũng như thân trong cảnh “treo” này. Khi kiên định thực tu thì không khác gì luôn luôn được cùng thiên nhân bầu bạn, tư tưởng trong cảnh giới của Thần; bằng như lúc chán nản mỏi mòn, thì cái thân xác thịt cho dù cách xa cõi phàm nhưng nguy hiểm lại luôn ngay sát dưới chân, treo lơ lửng giữa trời không thể đắc độ.
Một kỳ quan khác nữa của Huyền Không Tự chính là phụng thờ cùng một lúc ba tôn giáo, làm tượng của ba ông tổ tam giáo là Khổng Tử, Phật Thích Ca Mâu Ni và Lão Tử rồi đặt cùng với nhau. Giới tu luyện xưa nay đều nói bất nhị pháp môn, không thể hòa trộn tạp tu, nếu như một người tu hành bước chân vào hai cửa thì tu không thành, cũng không có sinh mệnh cao tầng nào gia trì giúp đỡ.
✨ Vậy có phải Thần đang gợi ý điều gì cho con người không?
Có phải chăng lúc này hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Đạo giáo đã bắt đầu suy bại rồi? Phật Thích Ca Mâu Ni cách đây hơn 2000 năm đã từng cảnh báo các đệ tử rằng, Pháp của ông trong tương lai rồi sẽ lạc mất, đến thời kỳ mạt Pháp thì Pháp của ông không thể độ nhân được nữa. Khi đó chùa không có Phật bảo hộ, thay vào đó là cáo chồn quỷ rắn. Các tỳ kheo nghe vậy vô cùng buồn khổ, hỏi: “Vậy phải thế nào?” Phật Thích Ca Mâu Ni bảo: “Khi Ưu Đàm Bà La hoa khai nở, Chuyển Luân Thánh Vương sẽ giáng thế, truyền Phật Pháp cứu độ thế nhân”.
Huyền Không Tự được xây dựng sau khi Phật Thích Ca nhập niết bàn 500 năm. Có thể Phật giáo lúc bấy giờ đã bắt đầu biến dị, và đồng thời Đạo giáo lúc bấy giờ cũng không còn tốt nữa. Phải chăng Huyền Không Tự đang tuân theo Thiên ý, đang gợi ý cho con người trong mê về trạng thái tu luyện trong tương lai là thế nào hay không?
Trong “Tuệ Lâm âm nghĩa”, có nói rằng: “Hoa Ưu Đàm Bà La cảm ứng điềm lành linh diệu, là hoa của trời, trên thế gian không có loài hoa này. Nếu Như Lai hạ thế, Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện tại thế gian, bởi vì đại phúc và uy đức của Ngài cảm hóa loài hoa này xuất hiện”. Trong “Pháp Hoa Văn Cú” cũng có viết: “Hoa Ưu đàm, điềm báo tốt lành. 3000 năm mới nở một lần, khi xuất hiện thì là Kim Luân Vương đến”.
🌥️ Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../ky-quan-ngan-nam-huyen-khong-tu.….
🌥️ Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
🌥️ Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
2 months ago | [YT] | 73
View 3 replies
Load more