Kênh TOÀN SÀI GÒN là kênh chuyên chia sẻ các nội dung về Sài Gòn, Văn Hoá & Tiếng Nói, ngoài ra còn đào tạo về Luyện Giọng Sài Gòn, Luyện Giọng Miền Nam, Đọc sách nói, làm Podcast. Thông qua các nội dung được sáng tạo từ giọng nói của Toàn Cao Vocie, đem tới cho khán giả sẽ những kiến thức hữu ích về cách luyện giọng, các đọc sách và những bài đọc, bài nói chuyện của Toàn Cao Voice:
Học luyện giọng trực tuyến: Zalo/ Whatapps: 0394 486 495


TOÀN SÀI GÒN

MỘT TẤM BẢNG THÔNG BÁO, ĐỌC XONG VẪN KHÓ HIỂU!

Toàn thấy một tấm hình do một người dùng Facebook chụp lại. Trên bảng ghi: “KHU VỰC CẤM BAY”, bên dưới là “ĐỐI VỚI TÀU BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN BAY SIÊU NHẸ”. Đọc đi đọc lại mấy lần, Toàn thấy có vài chỗ cần làm rõ.

Theo khoản 6 Điều 2 Luật Phòng không nhân dân năm 2024, tàu bay không người lái là phương tiện bay không cần người lái trực tiếp ở trên phương tiện để điều khiển, duy trì chuyến bay. Như vậy, không người lái không có nghĩa là không có người điều khiển.
Khoản 7 quy định về “phương tiện bay khác”, bao gồm khí cầu, mô hình bay, dù bay, diều bay, trừ diều bay dân gian, cùng những thiết bị bay khác có hoặc không có người điều khiển, không thuộc nhóm tàu bay hoặc tàu bay không người lái.

Vậy tại sao tấm bảng lại sử dụng cụm “phương tiện bay siêu nhẹ”? Chữ “siêu nhẹ” ở đây được xác định theo tiêu chí nào? Người dân có thể dựa vào đâu để biết phương tiện nào thuộc nhóm này? Và vì sao không sử dụng cách gọi “phương tiện bay khác” như trong Luật Phòng không nhân dân?

Thực tế, cách gọi “phương tiện bay siêu nhẹ” đã xuất hiện trong những văn bản pháp luật trước đây. Cho nên, Toàn không cho rằng thuật ngữ trên bảng nhất thiết sai. Điều Toàn muốn bàn là cách diễn đạt của một bảng thông báo công cộng. Người đọc cần biết rõ hành vi nào bị cấm, những phương tiện nào thuộc diện bị cấm và phạm vi cấm được xác định ra sao.

Theo Toàn, ngôn ngữ hành chánh không chỉ cần đúng quy định mà còn phải dễ hiểu. Nếu người dân đọc xong vẫn phải tự tìm hiểu từng khái niệm mới biết thông báo muốn nói gì, thì hiệu quả truyền đạt của tấm bảng cũng đáng được coi xét.

MỘT VÀI CÁCH DIỄN ĐẠT THEO QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN
Đây chỉ là những đề xuất về cách sử dụng tiếng Việt trên bảng thông báo, không phải mẫu bảng có giá trị pháp lý.

Phương án 1. Giữ cách gọi trong luật hiện hành
“KHU VỰC CẤM BAY. Cấm hoạt động bay đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác.”

Cách này ưu tiên sự thống nhất về thuật ngữ, nhưng chưa giải thích cụ thể các phương tiện bay khác là những loại nào.

Phương án 2. Hướng tới người đọc phổ thông
“KHU VỰC CẤM BAY. Không được cho flycam, máy bay điều khiển từ xa và các phương tiện bay thuộc diện cấm hoạt động trong khu vực này.”

Cách này dễ hình dung hơn đối với người dân, nhưng cần làm rõ những phương tiện khác thuộc diện bị cấm.

Phương án 3. Ngắn gọn, trực tiếp vào hành vi bị cấm
“CẤM HOẠT ĐỘNG BAY. Áp dụng đối với tàu bay không người lái và các phương tiện bay khác theo quy định pháp luật.”

Cách này xác định rõ hành vi bị cấm, đồng thời giữ được các thuật ngữ trong luật.

CÒN QUÝ VỊ THÌ SAO?
Toàn có hai câu hỏi muốn cùng quý vị thảo luận.
1. Khi đọc tấm bảng này, quý vị có hiểu ngay nội dung thông báo hay không? Đặc biệt, giữa người đã từng sử dụng flycam, thiết bị bay điều khiển từ xa và người chưa từng tiếp xúc với những phương tiện này, cách hiểu có khác nhau không?
2. Nếu được viết lại tấm bảng trên, quý vị sẽ chọn cách diễn đạt nào để vừa đúng quy định, vừa ngắn gọn, rõ nghĩa và dễ hiểu đối với người dân?

Toàn rất mong được nghe ý kiến của quý vị, đặc biệt là những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực hàng không, pháp luật và ngôn ngữ tiếng Việt.
#bangthongbao #cambay #toantiengviet #toansaigon

1 week ago | [YT] | 31

TOÀN SÀI GÒN

Nếu là Toàn, Toàn sẽ đặt tựa đề của bài báo này là:
Vợ Công Lý chia sẻ về sự gắn bó với các con riêng của chồng
hoặc
Ngọc Hà nói về sự gắn bó với hai con riêng của Công Lý
Còn quý vị, Quý vị nhìn tựa đề bài báo thì cảm nhận đầu tiên là gì? Nếu được đặt tựa đề thì quý vị sẽ đặt ra sao.
#TiengVietGiauDep #ToanTiengViet

1 week ago | [YT] | 30

TOÀN SÀI GÒN

NGỪNG TỰ ÁI, HÃY THẢO LUẬN

Lạ heng! Đang nói về tiếng miền Nam, cụ thể là âm giọng, giọng điệu và đặc điểm phát âm vùng miền, vậy mà có mấy "ông bà nội" vô thảo luận lại chuyển qua chữ viết, chánh tả, rồi đúng sai, chuẩn này chuẩn kia. Ủa, có phân biệt được chữ viết với tiếng nói hay không? Hay chưa nghe kỹ, chưa hiểu nội dung đã vội phản bác?

Có người đưa ra quan điểm kiểu ba phải: “Nói sao cũng được, miễn viết đúng chính tả như được học ở trường”. Nghe có vẻ hợp lý, nhưng lại dư thừa trong cuộc thảo luận này. Tiếng Việt là ngôn ngữ chung được sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân, việc dạy và học chữ viết đã có những quy ước thống nhất. Tôi đang nói về tiếng nói miền Nam, về cách tổ chức âm thanh, giọng điệu và đặc điểm phát âm của một vùng. Chớ tôi đâu có đề nghị mỗi vùng viết chánh tả theo cách phát âm của mình? Đem quy tắc chữ viết ra phản bác một vấn đề về tiếng nói là đã lạc khỏi trọng tâm.

Rồi có người bắt bẻ, phải viết “chính tả” mới đúng, còn “chánh tả” là sai. Tôi hỏi ngược, anh dựa vào tiêu chí nào, trong ngữ cảnh nào để khẳng định như vậy? Trong giáo dục phổ thông và văn bản hành chánh hiện nay, “chính tả” là cách viết thông dụng. Nhưng chữ “chánh” đã từng xuất hiện trong sách vở, văn chương và nhiều tài liệu miền Nam trước năm 1975. Ngày nay, người miền Nam vẫn còn xài những chữ như “chánh”, “sanh”, “nhứt” trong những ngữ cảnh phù hợp, đặc biệt khi gìn giữ tiếng nói và văn hóa địa phương. Còn trong công việc, văn bản có yêu cầu thống nhất, người ta vẫn sử dụng cách viết theo quy ước hiện hành. Không phân biệt được ngữ cảnh sử dụng mà cứ thấy khác với điều mình được học là phán sai, vậy có phải đang lấy hiểu biết của mình làm giới hạn cho tiếng Việt?
Lại có những người nghe tiếng vùng khác là lập tức kết luận người ta nói ngọng. Không biết họ sống ở xứ sở thần tiên nào mà mặc định cách phát âm của mình là thước đo cho thiên hạ? Đặc điểm phát âm của phương ngữ khác với khó khăn về cấu âm, chẳng hạn tình trạng dính thắng lưỡi gây hạn chế vận động lưỡi. Hai vấn đề khác nhau, đừng đánh đồng rồi phán xét.

Có người chỉ cần nghe khác biệt là tự ái, suy diễn rằng người nói đang chê bai, phủ nhận tiếng nói vùng mình, rồi gán ghép những điều người ta chưa từng nói. Thậm chí có người vu khống, đặt điều, tới chừng yêu cầu chứng minh thì im re. Đáng nói, trong số đó có cả người tự giới thiệu là giảng viên đại học, ký giả, có tuổi đời, học vị. Nhưng học vị và tuổi tác đâu thể thay thế chứng cứ và khả năng lập luận?

Có người khẳng định mình biết cách nói, biết phát âm, nhưng từ đầu tới cuối chỉ thấy viết. Tôi làm video, có nói, có đọc, có thị phạm rõ ràng. Nếu cho rằng cách phát âm của tôi sai, sao không thử phát âm thành tiếng để mọi người nghe và đối chiếu? Yêu cầu thị phạm thì tiếp tục viết. Đang tranh luận về âm thanh mà chỉ lấy chữ viết để chứng minh mình phát âm đúng hơn, có thấy mâu thuẫn không?

Rồi có người phán: “Bạn phát âm chưa chuẩn lắm”. Tôi hỏi chuẩn là gì, lấy tiêu chí nào làm căn cứ thì không trả lời được. Có người lại nói: “Tôi là người miền Tây, tôi không nói vậy”. Ủa, tôi có khẳng định tất cả người miền Tây đều phát âm giống nhau đâu? Trải nghiệm cá nhân có giá trị tham khảo, nhưng không đại diện cho cả cộng đồng.
Tôi đưa ra nhận định, không có nghĩa mọi nhận định đều đúng. Nếu thấy sai, anh chị cứ chỉ rõ chỗ sai, trình bày quan điểm, đưa ra căn cứ và ví dụ để phản bác. Tôi hoan nghênh những cuộc thảo luận như vậy.

Ngừng tự ái, ngừng suy diễn và gán ghép. Muốn phản biện thì phải hiểu người ta đang nói gì. Muốn bác bỏ thì phải có căn cứ. Còn chưa nghe kỹ, chưa hiểu đúng vấn đề mà đã sồn sồn kết luận, có lẽ nên xem lại khả năng nghe, hiểu và tư duy lập luận của mình trước đã.

#ToanTiengViet #ToanSaiGon #TiengMienNam #ToanCaoVoice #NgonNgu

1 week ago | [YT] | 53

TOÀN SÀI GÒN

MỘT TẤM BẢNG, ĐỌC XONG VẪN PHẢI SUY NGHĨ!

Nhìn tấm bảng trong hình, Toàn đọc được dòng chữ: “TRÔNG GIỮ PHƯƠNG TIỆN VÀO VÙNG PHÁT THẢI THẤP”. Đọc từng chữ thì hiểu, nhưng ghép lại thành câu thì bắt đầu thấy có vấn đề. Không biết người ta muốn thông báo đây là nơi giữ xe, hay nơi giữ những chiếc xe chuẩn bị đi vào vùng phát thải thấp?

Xét về cách diễn đạt, câu này không làm rõ việc giữ xe có liên quan ra sao tới vùng phát thải thấp, khiến người đọc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Vấn đề không nằm ở từng chữ riêng lẻ, mà ở cách sắp xếp câu chữ để chuyển tải thông tin.
Đối với một tấm bảng thông tin công cộng, điều quan trọng là người dân phải đọc nhanh, hiểu đúng, chớ không phải đứng lại suy đoán ý của người viết. Nếu muốn chỉ nơi giữ xe cho người đi vào khu vực đó, sao không viết rõ là “NƠI GIỮ XE CHO NGƯỜI VÀO VÙNG PHÁT THẢI THẤP”? Câu chữ đơn giản, gần gũi mà vẫn thể hiện được mục đích thông báo.

Ở đây, Toàn không bàn chuyện vùng phát thải thấp đúng hay sai, cũng không kết luận tấm bảng sai ngữ pháp hoàn toàn. Điều Toàn muốn bàn là cách xài tiếng Việt trong đời sống, đặc biệt ở những nơi cần truyền đạt thông tin cho số đông. Một câu có thể không sai về mặt chữ nghĩa, nhưng nếu khiến người đọc phải đoán ý thì hiệu quả truyền đạt đã bị ảnh hưởng.

Viết đúng chữ chưa chắc đã diễn đạt rõ ý. Viết cho người khác hiểu mới là điều đáng quan tâm.

Theo quý vị, tấm bảng này đang thông báo điều gì? Và nếu được sửa lại, quý vị sẽ viết ra sao cho ngắn gọn, dễ hiểu mà không làm sai ý người viết?

#bangthongbao #bangbaogiaothong #toancaorodia #vungphatthaithap

2 weeks ago | [YT] | 51

TOÀN SÀI GÒN

NGUYỄN TRUNG TRỰC, TỪ LỬA NHỰT TẢO ĐẾN RẠCH GIÁ

“Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.”

Hai câu thơ của Huỳnh Mẫn Đạt gần như đã gom lại hai chiến công lớn nhứt trong cuộc đời Nguyễn Trung Trực. Một trận trên vàm Nhựt Tảo năm 1861, một trận tại Rạch Giá năm 1868. Giữa hai trận đánh ấy là bảy năm của một người xuất thân bình dân, sống giữa lúc Nam Kỳ lần lượt rơi vào tay quân Pháp.

Thưa quý vị, nhân dịp người dân miền Tây chuẩn bị tưởng niệm 158 năm ngày Nguyễn Trung Trực hy sinh, Toàn xin mời quý vị trở lại câu chuyện về ông. Không chỉ qua những giai thoại quen thuộc, mà qua một số sử liệu và những công trình nghiên cứu đã được thực hiện từ nhiều thập niên trước.

Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, thuở nhỏ thường được kêu là Chơn, về sau còn có tên Quản Chơn, Quản Lịch. Phần lớn tài liệu hiện nay cho rằng ông sanh khoảng năm 1838 tại vùng Tân An. Gia đình làm nghề chài lưới, có nguồn gốc từ miền Trung rồi vào Nam lập nghiệp.

Xuất thân ấy cũng phần nào cho thấy một đặc điểm đáng chú ý của những cuộc chống Pháp ở Nam Kỳ buổi đầu. Không phải tất cả thủ lĩnh đều xuất thân từ tầng lớp quan lại hay khoa bảng. Trong số họ có những người sống rất gần với dân thường, quen sông nước, ruộng đồng, đường làng, và chính những hiểu biết ấy trở thành một lợi thế khi tổ chức kháng chiến.

Khi quân Pháp đánh Gia Định rồi mở rộng xuống miền Đông Nam Kỳ, Nguyễn Văn Lịch tham gia lực lượng chống Pháp tại vùng Tân An. Trong những năm đầu, tên tuổi ông gắn với lực lượng của Trương Định.

Rồi ngày 10 tháng 12 năm 1861, một trận đánh xảy ra tại vàm sông Nhựt Tảo khiến tên tuổi Nguyễn Trung Trực được biết đến rộng rãi.

Ở đó có chiếc tiểu hạm Espérance, nghĩa là Hy Vọng, của Hải quân Pháp. Đây là loại tàu chạy bằng hơi nước, có khả năng hoạt động trên sông rạch, được sử dụng vừa để tuần tiễu, vừa như một đồn nổi kiểm soát đường thủy.

Những câu chuyện truyền lại lâu nay thường kể rằng Nguyễn Trung Trực cho nghĩa quân giả làm một đám cưới, dùng ghe tiến gần chiếc tàu rồi bất ngờ tấn công.

Nhưng đây lại là một trong những chỗ sử liệu có sự khác nhau.

Một số tài liệu Pháp, trong đó có những ghi chép được các nhà nghiên cứu sau này dẫn lại từ Paulin Vial và Alfred Schreiner, lại mô tả những chiếc ghe tiến lại gần tàu trong dáng vẻ của ghe buôn, có tài liệu nói là ghe chở lúa. Khi đến đủ gần, nghĩa quân bất ngờ xông lên tàu, đánh giáp lá cà rồi phóng hỏa.

Chiếc Espérance bị thiêu hủy ngay trên vàm Nhựt Tảo.

Dù là ghe đám cưới hay ghe buôn, điều chắc chắn hơn cả vẫn là Nguyễn Trung Trực đã sử dụng một cách đánh táo bạo. Thay vì đối đầu trực diện với hỏa lực của tàu chiến, nghĩa quân tìm cách áp sát, triệt tiêu ưu thế súng ống rồi đánh ở khoảng cách rất gần.

Ngay những tài liệu phía Pháp cũng ghi nhận ảnh hưởng của trận đánh. Một chiếc tàu mang cái tên Hy Vọng đã bị thiêu rụi giữa một vùng sông nước mà người Pháp đang tìm cách kiểm soát.

Nhưng Nhựt Tảo chưa phải là đoạn cuối.

Sau Hòa ước năm 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm Gia Định, Định Tường và Biên Hòa thuộc về Pháp. Cuộc kháng chiến ở Nam Kỳ bước vào một giai đoạn khó khăn hơn. Đến năm 1867, ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên cũng lần lượt bị Pháp chiếm.

Nguyễn Trung Trực lúc ấy tiếp tục hoạt động ở miền Tây. Tài liệu triều Nguyễn cho biết ông từng được phong Thành thủ úy Hà Tiên, nhưng khi chưa kịp tới nhận nhiệm sở thì Hà Tiên đã thất thủ. Ông lui về vùng Hòn Chông rồi tiếp tục gây dựng lực lượng.

Mục tiêu kế tiếp của Nguyễn Trung Trực là Rạch Giá.

Rạng sáng ngày 16 tháng 6 năm 1868, nghĩa quân bất ngờ tấn công đồn Kiên Giang tại Rạch Giá.

Đây là một chiến công đặc biệt nếu đặt vào hoàn cảnh lúc đó. Pháp vừa hoàn tất việc chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ. Trong tình thế ấy, nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực lại đánh thẳng vào một trung tâm do Pháp kiểm soát và chiếm được Rạch Giá trong một khoảng thời gian trước khi quân tiếp viện kéo đến phản công.

Nếu Nhựt Tảo cho thấy cách đánh táo bạo trên sông nước thì Rạch Giá cho thấy Nguyễn Trung Trực lúc này đã trở thành một thủ lĩnh có khả năng tập hợp lực lượng và tổ chức một cuộc tấn công lớn hơn.

Có lẽ vì vậy mà Huỳnh Mẫn Đạt mới viết:

“Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.”

Lửa đỏ Nhựt Tảo làm vang động trời đất. Thanh gươm Kiên Giang khiến quỷ thần cũng phải khóc.

Sau khi quân Pháp tái chiếm Rạch Giá, Nguyễn Trung Trực phải rút khỏi khu vực. Cuộc kháng chiến dần chuyển ra Phú Quốc.

Và đây cũng là đoạn có nhiều giai thoại nhứt trong cuộc đời ông.

Lâu nay người ta thường kể rằng quân Pháp bắt mẹ Nguyễn Trung Trực, buộc ông phải ra nộp mình vì chữ hiếu. Câu chuyện ấy được lưu truyền rất rộng trong dân gian.

Nhưng tài liệu khác lại cho chúng ta một bức tranh phức tạp hơn.

Theo những ghi chép được dẫn lại từ Paulin Vial và đặc biệt là nội dung cuộc hỏi cung Nguyễn Trung Trực sau khi ông bị đưa về Sài Gòn, nghĩa quân tại Phú Quốc đã bị bao vây trong một thời gian, lương thực cạn dần và đời sống của dân chúng trên đảo cũng bị ảnh hưởng. Nguyễn Trung Trực nói rằng ông tự để một người dân trói mình rồi đưa tới lực lượng của Huỳnh Công Tấn. Ông còn khẳng định rằng nếu tiếp tục chiến đấu thì đối phương không dễ dàng bắt được mình.

Chi tiết này rất đáng suy nghĩ.

Nó cho thấy chuyện Nguyễn Trung Trực rơi vào tay Pháp có thể không đơn giản chỉ vì một người mẹ bị bắt. Đằng sau quyết định ấy còn có hoàn cảnh của nghĩa quân, sự phong tỏa trên đảo và số phận của những người dân đang bị cuốn vào cuộc chiến.

Sau khi bị bắt, Nguyễn Trung Trực được đưa về Sài Gòn để thẩm vấn. Người Pháp tìm cách chiêu dụ ông nhưng không thành.

Cũng từ những ngày cuối cùng ấy mà hậu thế truyền lại câu nói nổi tiếng:

“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây.”

Ngày 27 tháng 10 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bị hành quyết tại Rạch Giá. Ông mới khoảng ba mươi tuổi.

Ba mươi tuổi.

Nếu con số ấy đúng theo lời khai của chính ông trong thời gian bị giam, thì từ trận Nhựt Tảo đến lúc bước ra pháp trường, Nguyễn Trung Trực vẫn chỉ là một người thanh niên.

Nhưng câu chuyện về ông không kết thúc ở Rạch Giá năm 1868.

Một trăm năm sau, năm 1968, giới nghiên cứu tại Sài Gòn dành nguyên một số của Tập san Sử Địa để khảo cứu về Nguyễn Trung Trực. Phù Lang Trương Bá Phát viết về Nguyễn Trung Trực với vai trò dõng tướng Tân An. Phạm Văn Sơn gọi ông là “một Kinh Kha của miền Nam”. Sơn Nam đi tìm dấu vết đất khởi nghĩa và những giai thoại còn lưu truyền trong dân gian. Vương Hồng Sển lại đặt vấn đề khó hơn, làm sao viết tiểu sử Nguyễn Trung Trực khi sử liệu và truyền thuyết đã đan xen vào nhau suốt một thế kỷ.

Có lẽ chính điều đó làm Nguyễn Trung Trực trở thành một trường hợp rất đặc biệt trong ký ức của người miền Nam.

Sử liệu giữ lại những trận đánh, ngày tháng và một số lời khai.

Dân gian giữ lại những câu chuyện về con người.

Còn người dân Rạch Giá và nhiều vùng miền Tây giữ ông lại trong đời sống tín ngưỡng của mình.

Năm nay, 2026, đã 158 năm kể từ ngày Nguyễn Trung Trực mất. Tại Rạch Giá, lễ hội truyền thống tưởng niệm ông lại được tổ chức vào những ngày cuối tháng tám âm lịch. Hơn một thế kỷ rưỡi đã đi qua, một người dân chài của vùng Tân An ngày nào vẫn được hàng vạn người tìm đến thắp nhang tưởng nhớ. #NguyenTrungTruc #XuNamKy #DanhDuoiPhapoNamKy

3 weeks ago | [YT] | 52

TOÀN SÀI GÒN

PHẢN BIỆN HAY CÔNG KÍCH?
Thảo luận khác với công kích ở chỗ mình phải phân biệt rõ đâu là quan điểm chủ quan, đâu là nhận định có tính khách quan. Nếu nói tôi nghe cách này thấy chướng, tôi không thích cách nói đó, thì đó là cảm nhận cá nhân, không cần biến nó thành chân lý.
Nhưng nếu nói một người chia rẽ dân tộc, thượng đẳng, giả tạo, cố tình đồng hóa hay có động cơ nào đó, thì đó đã là một khẳng định về người khác. Mà đã khẳng định thì phải có dẫn chứng cụ thể.

Ngay trên trang của Toan Cao Voice, có những bình luận mang tính quy chụp, nhưng khi hỏi bài nào, câu nào, đoạn nào thể hiện điều đó thì lại không đưa ra được bằng chứng. Lúc này vấn đề không còn nằm ở chuyện đồng ý hay không đồng ý, mà nằm ở chất lượng của lập luận. Một điểm khác cũng dễ thấy là khá nhiều tài khoản công kích có kiểu xuất hiện tương tự, tên khó xác định, ít thông tin cá nhân, hình đại diện là thú vật, phong cảnh hoặc hình không cho biết danh tính. Không thể vì vậy mà kết luận họ là giả mạo, nhưng trạng thái nặc danh hoặc ít gắn với danh tính thật có thể khiến người ta cảm thấy ít phải chịu trách nhiệm hơn cho lời mình nói. Khi đứng sau một tài khoản khó xác định danh tính, người ta cũng có thể dễ buông lời nặng hơn, gán động cơ nhanh hơn hoặc công kích cá nhân mạnh hơn.

Vì vậy, khi tranh luận, câu hỏi quan trọng vẫn là: bạn đang nói từ cảm nhận cá nhân, hay đang đưa ra một khẳng định? Nếu là khẳng định, bằng chứng ở đâu? Học cách lắng nghe, phân biệt cảm nhận với khẳng định, và phản biện bằng dẫn chứng sẽ giúp cuộc thảo luận có chất lượng hơn, thay vì biến bất đồng quan điểm thành công kích cá nhân.
#tuduyphanbien #congkichcanhan #toancaovoice #phanbien

3 weeks ago | [YT] | 41

TOÀN SÀI GÒN

TIẾNG MIỀN NAM, DẠ VÂNG Ạ LÀ THẢO MAI?
Có một chuyện nhỏ nhưng dễ gây tranh luận, đó là chữ ạ trong cách nói tiếng miền Nam. Nếu vâng ạ đi với âm điệu miền Bắc thì nghe rất tự nhiên, vì đó là một cách nói đã quen thuộc từ lâu. Còn trong tiếng miền Nam, ở những tình huống tương tự, người ta thường nói dạ, dạ thưa. Nghe thuận với âm điệu, nhịp nói và cách thưa gởi của người miền Nam hơn.

Vâng ạ là một cách biểu thị sự lễ phép. Dạ thưa cũng là một cách biểu thị sự phải phép. Không có chuyện chỉ khi có chữ ạ thì câu nói mới lịch sự. Một người miền Nam bây giờ nói vâng ạ, được ạ, em biết rồi ạ cũng không có gì sai. Chỉ là cách nói đó có thể không phải thói quen vốn quen thuộc của nhiều gia đình miền Nam trước đây.
Ngôn ngữ sống trong cộng đồng thì luôn có tiếp xúc, pha trộn và thay đổi. Ở miền Nam, chuyện này càng dễ thấy nếu nhìn lại những đợt dịch chuyển dân cư lớn trong thế kỷ XX. Sau năm 1954, nhiều cộng đồng người miền Bắc vào sinh sống ở miền Nam, hình thành những vùng cư trú mới ở Gia Kiệm, Biên Hòa, Sài Gòn và nhiều nơi khác. Sau năm 1975, những đợt chuyển cư, đi vùng kinh tế mới, thay đổi nơi sinh sống giữa các địa phương lại tiếp tục làm các cộng đồng gần nhau hơn. Vũng Tàu là một thí dụ dễ thấy về sự cộng cư và giao thoa như vậy.

Khi sống gần nhau lâu ngày, lời ăn tiếng nói ảnh hưởng qua lại là chuyện bình thường. Người Bắc sống trong môi trường miền Nam có thể quen với dạ, nghen, hông, má, ngoại. Người miền Nam sống trong gia đình có cha hoặc mẹ gốc Bắc lại có thể nghe từ nhỏ những cách nói như vâng, ạ, thế à. Rồi tới thế hệ con cháu, những cách nói vốn thuộc hai vùng có thể xuất hiện chung trong một gia đình, thậm chí trong cùng một câu.

Sự kết hôn giữa các cộng đồng cũng góp phần tạo ra những kiểu nói giao thoa rất tự nhiên. Chưa kể trường học, truyền hình, phim ảnh, công việc và mạng xã hội ngày nay cũng làm cho một cách nói từ vùng này lan sang vùng khác nhanh hơn trước.
Chính vì vậy, cách nói của thế hệ sau phụ thuộc rất nhiều vào sự giáo dưỡng trong gia đình. Gia đình là nơi con cháu nghe đầu tiên, học đầu tiên và hình thành cảm giác ngôn ngữ đầu tiên. Biết một chữ từ đâu tới, quen với cách nói nào, xài trong hoàn cảnh nào, nhiều khi bắt đầu từ chính trong nhà.

Nếu đã nói dạ thì trong thói quen tiếng miền Nam, thường không nhất thiết phải thêm vâng rồi thêm ạ thành dạ vâng ạ. Với nhiều người miền Nam, cách kết hợp đó nghe hơi dư, không phải vì sai văn phạm, mà vì không phải kiểu nói họ vốn quen.
Cho nên khi nhiều người miền Nam phản ứng trước việc chữ ạ xuất hiện dày hơn, cũng không nhất thiết là họ ghét chữ ạ hay ghét cách nói miền Bắc. Có người nghe thấy thảo mai, có người thấy chướng, cấn hoặc đơn giản là không thuận tai. Những cảm giác đó cũng dễ hiểu, vì tai mỗi người đã quen với một nhịp điệu và một môi trường ngôn ngữ khác nhau.

Tiếng miền Nam có dạ, dạ thưa. Tiếng miền Bắc quen với vâng, vâng ạ. Còn tiếng Việt hiện nay thì đang có rất nhiều lớp giao thoa giữa những cách nói đó. Quan trọng là trong gia đình, con cháu được nghe, được chỉ và được hiểu thêm, để biết đâu là giao thoa tự nhiên, đâu là nét riêng của tiếng nói mình muốn giữ lại.
#tiengmiennam #ngonnguvanhoa #giaothoavanhoa #toancaovoice #toansaigon

3 weeks ago | [YT] | 60

TOÀN SÀI GÒN

ĐÁ GÀ HAY CHỌI GÀ, SÁCH XƯA GHI RA SAO?
Một khán giả hỏi Toàn, nghe quen đá dế, đá cá, đá gà, nhưng trong bài đọc lại gặp chọi gà, chọi trâu. Vậy cách nói nào mới là chữ xưa của Sài Gòn?
Tra Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, bộ sách xuất bản tại Sài Gòn năm 1895 và 1896, ngay trong quyển I đã có cả đá gà lẫn chọi gà. Mục đá gà được giải thích là “Chọi gà, cho gà chọi nhau”. Qua mục chọi gà, tác giả giải thích gọn bằng hai chữ “Đá gà”. Như vậy, từ cuối thế kỷ XIX, hai cách nói đã được dùng để giải nghĩa cho nhau trong cùng một cuốn tự vị.
Cũng trong sách này, chữ chọi được giảng là “Cụng với nhau, làm cho đụng nhau”. Theo cách giải nghĩa đó, chữ chọi có nghĩa là cụng, đụng nhau. Còn ở mục gà đá, cụ Huỳnh mô tả việc những con gà dùng chân đánh nhau. Khi chuyển qua đá gà, nghĩa là cho gà đấu với nhau. Sách ghi nhận cả hành động của con vật lẫn tên cuộc chơi.
Với cá, cách xài chữ đá đã có trong văn của cụ Vương Hồng Sển. Bản đăng lại bài viết về thú chơi cá lia thia, cuối bài ghi tại Gia Định năm 1961, có cách nói cá đá lộn, cùng những đoạn bàn về nết đá và sức chịu đòn của cá. Trong trường hợp này, đá được dùng để nói chuyện cá đấu nhau, dù cá không có chân để đá theo nghĩa thông thường.
Hồi nhỏ, ở gia đình và xóm của quý vị, người lớn thường nói đá gà hay chọi gà? Xin để lại bình luận và cho biết địa phương nơi quý vị từng nghe cách gọi đó.
#daga #choiga #gianghiatiengviet #toancaovoice

4 weeks ago | [YT] | 44

TOÀN SÀI GÒN

TIẾNG MIỀN NAM HAY GIỌNG MIỀN NAM?

Có người nói, Việt Nam chỉ có tiếng Việt, còn miền Bắc, miền Trung, miền Nam chỉ khác nhau ở giọng. Nói vậy nghe cũng có lý, nhưng theo tôi thì chưa đủ. Đúng là người miền Nam nói tiếng Việt, chớ không có một ngôn ngữ riêng tên là tiếng miền Nam. Nhưng khi tôi nói tiếng miền Nam, tôi đang nói tới tiếng nói của người miền Nam, tức cách người miền Nam xài tiếng Việt trong đời sống hằng ngày.

Còn giọng miền Nam là một chuyện khác. Giọng trước hết liên quan tới cách phát âm, âm điệu, ngữ điệu. Nếu nói rộng hơn về giọng của từng người thì còn có chất giọng dày, mỏng, trầm, cao, trong, khàn, chói, ấm. Hai người cùng sanh ra ở miền Nam, cùng nói tiếng miền Nam, nhưng chất giọng vẫn có thể rất khác nhau. Còn tiếng nói thì rộng hơn cái giọng. Trong tiếng nói còn có chữ người ta quen xài, cách xưng hô, cách đặt câu, cách đáp lời, nhịp nói và những thói quen giao tiếp đã hình thành lâu đời trong cộng đồng.

Thí dụ đơn giản vầy, người miền Nam thường nói quẹo, xài, chớ, hổng, nghen, mắc cỡ, bển, dữ hôn, dạ thưa. Đây không phải chỉ là chuyện phát âm khác giọng. Nếu chỉ khác giọng, thì cùng một chữ rẽ, người Bắc đọc theo giọng Bắc, người Nam đọc theo giọng Nam. Nhưng trong đời sống, người miền Nam lại thường nói quẹo. Nghĩa là khác biệt nằm ngay ở chữ được lựa để nói, chớ không chỉ ở cách phát âm. Xài cũng vậy. Người ta có thể nói sử dụng, nhưng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người miền Nam, xài nghe tự nhiên hơn.

Hay trong cách đáp lời, dạ, dạ thưa với vâng ạ đều có thể biểu thị sự lễ phép, nhưng đó là hai cách nói khác nhau. Người miền Nam từ lâu đã quen với dạ, chớ không phải chỉ lấy chữ vâng ạ rồi đọc bằng giọng miền Nam. Người miền Nam tất nhiên vẫn phát âm được chữ vâng hay ạ, nhưng trong cách nói truyền thống của miền Nam, dạ, dạ thưa, dạ được rồi, dạ hông có sao thường thuận miệng, thuận nhịp và ăn với âm điệu tiếng nói miền Nam hơn. Không phải cái miệng người miền Nam không đọc được một chữ nào đó, mà là trong đời sống lâu ngày, cộng đồng đó đã quen lựa một cách nói khác. Chính chỗ này cho thấy tiếng nói của một vùng không chỉ có giọng, mà còn có những chữ và cách nói mà người của vùng đó quen xài.

Chuyện này cũng không có gì lạ nếu nhìn ra những ngôn ngữ khác. Người Anh và người Mỹ đều nói tiếng Anh, nhưng họ không chỉ khác giọng. Có những thứ người Anh gọi là flat, người Mỹ thường gọi là apartment. Cùng một ngôn ngữ, nhưng ở những vùng đất khác nhau, người ta có thể hình thành những thói quen lựa chữ và cách diễn đạt khác nhau. Tiếng Tây Ban Nha cũng vậy. Người ở Tây Ban Nha, Mexico hay Argentina đều nói tiếng Tây Ban Nha, nhưng cách phát âm, vốn từ và cách xưng hô có những chỗ khác nhau. Ở Argentina, người ta thường xài vos trong nhiều trường hợp mà nơi khác xài tú.

Bởi vậy, theo tôi, tiếng nói của một vùng không phải tự nhiên mà thành. Nó sống trong gia đình, ngoài chợ, trên đường phố, trong trường học, trong cách người ta gọi nhau, hỏi nhau, đáp lời nhau. Lâu ngày, có những chữ trở nên thuận miệng, có những nhịp câu trở nên quen tai, rồi thành ra cách nói của một vùng.

Vậy nên, khi tôi nói tiếng miền Nam, tôi không có ý nói miền Nam có một ngôn ngữ riêng tách khỏi tiếng Việt. Tôi gọi là tiếng miền Nam vì người miền Nam, ngoài giọng nói riêng, còn có cả một cách xài tiếng Việt mang đặc trưng của vùng mình. Người ta nói quẹo, xài, chớ, hổng, nghen, bển, mắc cỡ, dạ thưa. Những cái đó là từ ngữ và cách nói, đâu phải chỉ là giọng. Nói gọn lại, giọng miền Nam thuộc về cách phát âm, âm điệu, ngữ điệu và chất giọng; còn tiếng miền Nam là cả cách người miền Nam nói tiếng Việt, từ phát âm cho tới chữ nghĩa, xưng hô, đặt câu và cách đáp lời. Bởi vậy, nói miền Nam chỉ có giọng miền Nam thì mới nói được một phần thôi. #tiengmiennam #phuongngunamky #vanhoatiengnoi #loiantiengnoi

1 month ago | [YT] | 141

TOÀN SÀI GÒN

GHI DANH VÀ ĐĂNG KÝ
Ngày nay, ghi danh và đăng ký nhiều khi được dùng gần như thay cho nhau, nhưng nếu để ý kỹ thì hai chữ này vẫn có chỗ khác.

Ghi danh thường xài khi nói tới một người ghi tên mình vô danh sách để tham gia một việc gì đó.

Thí dụ:
ghi danh nhập học
ghi danh dự thi
ghi danh học một khóa
ghi danh khám bịnh
ghi danh tham gia chương trình
ghi danh vào hội
ghi danh đi một chuyến sinh hoạt
Điểm chung là có người, có tên, có danh sách, rồi người đó ghi tên mình vô để được học, được thi, được khám hay được tham gia.

Còn đăng ký thường xài với những việc mang tính thủ tục, hồ sơ, tài sản, quyền lợi hay sự ghi nhận chính thức.

Thí dụ:
đăng ký xe
đăng ký kinh doanh
đăng ký kết hôn
đăng ký quyền sở hữu
đăng ký thương hiệu
đăng ký tạm trú

Nói gọn lại, ghi danh thường đi với người và việc tham gia, còn đăng ký thường đi với thủ tục và sự ghi nhận chính thức.

Bây giờ chữ đăng ký được xài rộng hơn trước, nên mình nghe cả đăng ký học, đăng ký thi, đăng ký khám bịnh, đăng ký tham gia. Những cách nói đó đã rất quen.

Nhưng trong nhiều trường hợp, chữ ghi danh vẫn rất rõ nghĩa và tự nhiên.

Đi học thì có thể ghi danh học.
Đi thi thì ghi danh dự thi.
Tham gia một khóa học thì ghi danh.
Còn xe cộ, kinh doanh, kết hôn, quyền sở hữu thì đăng ký.

Hai chữ gần nhau, nhưng nếu xài đúng chỗ thì câu nói sẽ rõ nghĩa hơn. 15 năm trước ở Sài Gòn, đi ngang qua các lò dạy thi, cũng hay thấy chữ ghi danh, bây giờ thì cái gì cũng đăng ký.

Quý vị thường dùng chữ ghi danh, hay đăng ký cho từng trường hợp cụ thể? #ghidanh #dangky

1 month ago | [YT] | 75